TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HÀ NỘI Bản án số: 17/2026/HSST Ngày 13 tháng 01 năm 2026 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tố Thu
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Như Bình
2. Bà Nguyễn Mai Phương
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuỳ Linh - Cán bộ Toà án nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Dương Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2026 tại Toà án nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội, Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 312/2025/TL - HSST ngày 25 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 575/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2025, đối với:
- Bị cáo: Phạm Văn K. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1992. CCCD: chưa được cấp; HKTT: Không xác định. Chỗ ở: Số B ngách A P, phường H, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 0/12. Nghề nghiệp: không. Họ và tên bố: Phạm Văn D, sinh năm 1973 (đã chết). Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1973 (đã chết). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai.
- Bị cáo: Trần Văn B. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1987; HKTT: Thôn T, xã Q, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở: Không nơi ở cố định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 06 /12. Nghề nghiệp: không Họ và tên bố: Trần Văn T,sinh năm 1961. Họ và tên mẹ: Phan Thị H, sinh năm 1960. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Họ và tên vợ: Hồ Thị T1, sinh năm 1992. Có 02 con: lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 02/8/2025 và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2025. Hiện đang tạm giam tại trại giam S1 – Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
- Bị cáo: Bùi Quang M. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1994; HKTT, chỗ ở: số H Đường A - phường H - thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: không. Họ và tên bố: Bùi Quang T2, sinh năm 1963. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1966. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án: 02 tiền án: Bản án số 255/2018/HSST ngày 28/9/2018, Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 30 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong án phạt tù ngày 01/10/2020, bị cáo nộp án phí ngày 04/9/2019; Bản án số 72/2022/HSST ngày 18/11/2022, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái – tỉnh Yên Bái xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 10/8/2024.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 184/2012/HSST ngày 04/5/2012, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 23/9/2012, bị cáo nộp án phí ngày 25/7/2012. (đã xóa án tích); Bản án số 59/2013/HSST ngày 22/3/2013, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 19/12/2013, bị cáo nộp án phí ngày 25/9/2013. (đã xóa án tích).
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 02/8/2025 và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2025. Hiện đang tạm giam tại trại giam S1 – Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
Tiền án: 01 tiền án: Bản án số 37/2019/HSST ngày 04/4/2019, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 03 năm tù tội Trộm cắp Tài sản, Chấp hành xong án phạt tù ngày 27/7/2021, Bị cáo chưa nộp tiền phạt 8.000.000 đồng (chưa xóa án tích). Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 51/2015/HSST ngày 20/5/2015, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 10/7/2015, bị cáo nộp án phí ngày 11/8/2015 theo biên lai số 0390 (đã xóa án tích); Ngày 21/5/2010, đưa vào trường G (ngoài thời hiệu)
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 02/8/2025 và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2025. Hiện đang tạm giam tại trại giam S1 – Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn H2, sinh năm 1992. HKTT: Xóm A, xã Q, tỉnh Nghệ An. Hiện đang lưu trú tại cơ sở cai nghiện số 2 (B, thành phố Hà Nội) theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 30/2025/QĐ-XLHC ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội; – có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02/8/2025, Tổ công tác Công an phường H, Hà Nội đang tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà số B ngách A, phường H, Hà Nội thì phát hiện Phạm Văn K, Trần Văn B và Bùi Quang M đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, thu giữ trên bàn cạnh đệm trong phòng có 01 bộ tẩu hút tự tạo (01 chai nhựa có gắn Cóng thủy tinh đã qua sử dụng) 01 hộp nhựa màu trắng bên trong có 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng. Tại chỗ, K, B và M đều khai nhận là dụng cụ sử dụng ma túy đá của K, B, M cùng sử dụng với nhau. Tổ công tác tiến hành lập biên bản và đưa Phạm Văn K, Trần Văn B và Bùi Quang M về trụ sở giải quyết (bút lục 09-11).
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của Phạm Văn K:
- + 01 bộ tẩu hút tự tạo (01 chai nhựa có gắn cóng thủy tinh đã qua sử dụng)
- + 01 Hộp nhựa màu trắng bên trong có 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng.
- + 01 điện thoại di động VIVO màu đen đã qua sử dụng, IMEI: 862101047457398, lắp sim số 0367211574.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen đã cũ, số I: 354650134943038, lắp sim số 0941308214.
- Thu giữ của Bùi Quang M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã cũ.
- Thu giữ của Lê Văn H2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã cũ số Imei: 354035/90/036825/7, lắp sim số 0388271537.
Tại bản kết luận giám định số 45 ngày 02/8/2025 của Phòng K1 - C1 xác định: (bút lục 160)
- + Tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,532 gam là ma túy loại Methamphetamine.
- + 01 viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng là 0,096 gam.
- + 01 bộ tẩu hút tự tạo gồm 01 chai nhựa có gắn coóng thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine
Xét nghiệm nước tiểu của Phạm Văn K, Trần Văn B, Lê Mạnh H3 và Bùi Quang M cho kết quả đều dương tính với ma túy Methamphetamine.
Cơ quan điều tra đã tiến hành sao kê lịch sử giao dịch chuyển khoản đối với các số tài khoản số 103882564032 tại V và tài khoản số 100594888 tại T3 trong thời gian từ ngày 31/7/2025 đến ngày 04/8/2025, kết quả xác định: Lúc 21h21 ngày 01/8/2025, phát sinh biến động số tiền 500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V1 số 103882564032 đã chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng T3 số 100594888 mang tên Bùi Quang M (bút lục 204).
Căn cứ kết quả điều tra, xác định được như sau: Phạm Văn K thuê nhà trọ tại địa chỉ số B, ngách A P, phường H, thành phố Hà Nội từ tháng 5/2025. Tối ngày 01/8/2025, Trần Văn B gọi điện cho Phạm Văn K rủ cùng góp tiền mua ma túy đá về nhà K để tổ chức sử dụng và được K đồng ý. Sau đó, B chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng V1 số 103882564032 của mình vào tài khoản ngân hàng T3 số 100594888 (mang tên Bùi Quang M) cho K số tiền 500.000đồng. Do Khánh không mở được tài khoản tại ngân hàng nên K đã mượn Bùi Quang M số tài khoản trên để sử dụng từ giữa tháng 7/2025. Khoảng 03h00 ngày 02/8/2025, K đi bộ từ nhà trọ ra khu vực chợ L, phường H, Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây, K gặp và mua 800.000đồng ma túy đá và 200.000đồng ma túy hồng (02 viên ngựa) của một người đàn ông không quen biết. Người đàn ông này nhận tiền và bán cho K 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá và 02 viên ma túy ngựa màu hồng rồi bỏ đi. K mang số ma túy trên về nhà trọ, tự chế 01 bộ tẩu hút tự tạo bằng vỏ chai nhựa, ống hút nhựa và cóng thủy tinh, tiếp đó K lấy một phần ma tuý đá và 01 viên ma túy hồng trộn vào nhau cho vào cóng thủy tinh, sau đó K dùng bật lửa châm cóng ở bộ tẩu hút tự tạo để sử dụng ma túy dưới hình thức hút. Sau khi sử dụng ma túy xong thì K nằm ngủ tại nhà trọ, bộ tẩu hút tự tạo K để trên mặt bàn cạnh đệm ngủ. Khoảng 06h20 ngày 02/8/2025, Trần Văn B bắt xe khách đến cổng chợ L và tìm vào đến nhà K. K mở cửa cho B vào nhà rồi lấy túi nilon chứa ma túy đổ một phần ma túy đá vào cóng thủy tinh và dùng bật lửa châm bình cóng cho B sử dụng. Biển sử dụng xong thì K tự châm lửa đốt nóng cóng để sử dụng ma tuý. Đến 12h00 ngày 02/8/2025, Lê Văn H2 (sinh năm: 1992, hộ khẩu thường trú tại xóm A, Q, Nghệ An) đi bộ sang nhà K chơi và nhìn thấy K đang nằm trên đệm, trên mặt bàn cạnh chiếc đệm ngủ có 01 bộ tẩu hút tự tạo, bên trong bình cóng có sẵn ma túy. H2 tự lấy bật lửa trên mặt bàn châm bình cóng và hút hai hơi ma túy, K thấy H2 sử dụng ma túy nhưng không ngăn cản để mặc H2 sử dụng ma túy (Lúc này B đang đi tắm không biết việc H2 sử dụng ma túy). Sau khi sử dụng ma túy xong thì H2 bỏ về nhà trọ. Khoảng 13h30 ngày 02/8/2025, Bùi Quang M nhắn tin nhắn thoại cho K hỏi có nhà không thì K trả lời có và rủ M sang phòng trọ củ K để sử dụng ma túy. Khoảng 16h30 ngày 02/8/2025, Phạm Văn K và Trần Văn B đang sử dụng ma tuý cùng nhau tại phòng trọ của K thì M đến. K, B và M ngồi quây quanh bàn để bộ tẩu hút ma túy. K và B cùng nói với M: “hút thì châm đi”. M nói: “vâng” rồi tự dùng bật lửa châm cóng có sẵn ma túy hút hai hơi. Sau đó M hỏi: “các anh có hút không”. Nghe M nói vậy, K dùng tay cầm ống hút để vào mồm, M cầm bật lửa châm cóng để K hút. K hút xong, M hỏi B: “anh có hút không”. Biển nói: “ai hút thì tự châm”. Sau đó M đặt bộ tẩu hút xuống bàn, B cầm bộ tẩu hút và tự châm cóng để sử dụng ma túy. Đến khoảng 17h30 cùng ngày, khi M đứng dậy đi ra cửa thì bị công an phường H, thành phố Hà Nội phát hiện và bắt giữ như đã nêu trên.
Quá trình điều tra do không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng đã bán ma túy loại Methamphetamine cho Phạm Văn K nên cơ quan CSĐT- Công an thành phố H không có căn cứ xử lý.
Đối với Lê Văn H2, không đủ tài liệu chứng minh tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Phạm văn K, Trần Văn B, Bùi Quang M. Xác minh tại công an xã Q, Nghệ An, C2 Lê Văn H2 không phải là đối tượng thuộc khoản 1, điều 256a BLHS năm 2015. Do vậy không đủ căn cứ để xử lý đối với Lê Văn H2 về tội Sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2024, 2025. Ngày 27/11/2025, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy công an thành phố H đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Văn H2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mức phạt 1.500.000 đồng theo khoản 1, điều 23 Nghị định 144/NĐ-CP.
Tại bản cáo trạng số 146/CT-VKS ngày 24/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội đã truy tố bị cáo Phạm Văn K về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; bị cáo Trần Văn B về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 và bị cáo Bùi Quang M về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử. - Về hình phạt chính:
- + Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025: Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn K từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025: Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn B từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù
- + Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025: Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Quang M từ 36 tháng đến 42 tháng tù
- Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma túy thu giữ của bị cáo, tịch thu sung công: 01 điện thoại di động VIVO màu đen đã qua sử dụng, IMEI: 862101047457398, lắp sim số 0367211574; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen đã cũ, số I: 354650134943038, lắp sim số 0941308214; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã cũ vì liên quan đến vụ án; trả lại cho anh Lê Văn H2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã cũ số Imei: 354035/90/036825/7, lắp sim số 0388271537 vì không liên quan đến hành vi phạm tội. Các bị cáo phải nộp án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Văn K, Trần Văn B và Bùi Quang M đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án các bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt quả tang, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:
Tối ngày 01/8/2025 Trần Văn B điện thoại cho Phạm Văn K rủ nhau góp tiền mua ma túy về cùng sử dụng, B góp 500.000 đồng và K góp 600.000 đồng để K đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, K tự chế 01 bộ tẩy hút tự tạo bằng vỏ chai nhựa, ống hút nhựa và cóng thủy tinh.
Ngày 02/08/2025, tại nhà trọ tại địa chỉ số B, ngách A, phường H, thành phố Hà Nội, Phạm Văn K, Trần Văn B, Bùi Quang M đã có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cụ thể như sau:
- Phạm Văn K đã có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Trần Văn B, Bùi Quang M và Lê Văn H2.
- Trần Văn B đã có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Phạm Văn K, Bùi Quang M.
- Bùi Quang M đã có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Phạm Văn K.
Xét thấy, hành vi của các bị cáo là hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý chất ma túy. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bản thân các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Văn K, Trần Văn B và Bùi Quang M đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Bản cáo trạng và Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Phạm Văn K cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Trần Văn B cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Bùi Quang M cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025. Bản cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, khi tệ nạn ma túy đang là vấn đề nhức nhối của xã hội, bởi chất ma túy là chất gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm, tạo nên sự bất ổn định của tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Tòa án xét xử nghiêm minh vụ án nhằm giáo dục các bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Đối với bị cáo Phạm Văn K: Lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm được xác định là tình tiết định khung quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 BLHS.
- Đối với bị cáo Trần Văn B không có tình tiết tăng nặng.
- Đối với bị cáo Bùi Quang M: Bản án số 37/2019/HSST ngày 04/4/2019, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 03 năm tù tội Trộm cắp Tài sản, Chấp hành xong án phạt tù ngày 27/7/2021, Bị cáo chưa nộp tiền phạt 8.000.000 đồng, lần phạm tội này của bị cáo là xác định là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân : các bị cáo Phạm Văn K có 02 tiền án, 0 tiền sự; Trần Văn B không có tiền án, tiền sự; Bùi Quang M có 01 tiền án, 0 tiền sự.
- Các bị cáo Phạm Văn K, Trần Văn B và Bùi Quang M không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Các bị cáo Phạm Văn K, Trần Văn B và Bùi Quang M đang bị tạm giam, để đảm bảo việc thi hành án, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam các bị cáo 45 ngày (bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: số ma túy thu giữ của bị cáo là vật chứng của vụ án, nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động VIVO màu đen đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen đã cũ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã cũ thu giữ của các bị cáo, vì có liên quan đến vụ án nên cần tịch thu S2; trả lại cho anh Lê Văn H2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã vì không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; các Điều 106; 136; 331; 333 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/8/2025.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; các Điều 106; 136; 331; 333 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn B 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/8/2025.
- Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; các Điều 106; 136; 331; 333 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Bùi Quang M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Quang M 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/8/2025.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu và tiêu huỷ: 01 bao niêm phong còn nguyên vẹn, được dán kín, tại mép dán có chữ ký của giám định viên Trần Ngọc C, đương sự Phạm Văn K, Trần Văn B, Bùi Quang M; cán bộ Nguyễn Đặng Tiến công an phường H, đóng dấu của Công an phường H (bên trong là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định) và 01 bao niêm phong còn nguyên vẹn, được dán kín, tại mép dán có chữ ký của giám định viên Trần Ngọc C, đương sự Phạm Văn K, Trần Văn B, Bùi Quang M; cán bộ Nguyễn Đặng Tiến công an phường H, đóng dấu của Công an phường H (bên trong là một bộ tẩu hút tự tạo).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động VIVO màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra imel, kèm một sim vật lý (tạm giữ của Phạm Văn K); 01 điện thoại di động Samsung màu đen đã cũ, số Imei: 354650134943038, kèm một sim vật lý (tạm giữ của Phạm Văn K); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã cũ không kiểm tra imel tạm giữ của Bùi Quang M.
- Trả lại cho anh Lê Văn H2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã cũ số Imei: 354035/90/036825/7, kèm 01 sim vật lý, mặt trước bị rạn vỡ (tạm giữ của Lê Văn H2).
Các vật chứng trên đang lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự 1 theo biên bản giao vật chứng số 161/KV1-2026 ngày 12/01/2026.
- Về án phí: Bị cáo Phạm Văn K, Trần Văn B và Bùi Quang M phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt/niêm yết hợp lệ bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Tố Thu |
Bản án số 17/2026/HSST ngày 13/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HÀ NỘI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2026/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
