|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 17/2026/HS-PT Ngày: 29-01-2026 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Vân
Bà Nguyễn Thị Bích Thảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Khánh Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 304/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo Lê Trọng T; do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HS-ST ngày 14/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Lê Trọng T, sinh năm 1973 tại Hà Nội; nơi ĐKTT: Số B - C Tổ B, phường Đ, quận L, Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Số D đường H, thôn V, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình T1 (Đã chết), con bà Nguyễn Thị N; gia đình bị cáo có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1971, nhỏ nhất sinh năm 1975, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị H; bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Trọng T thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ (gọi tắt là Công ty Đ) được Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh L cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lần đầu ngày 11/03/2022 - Mã số doanh nghiệp 5801481368. Ngành nghề kinh doanh chính là xây dựng công trình đường bộ; buôn bán vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng... Địa chỉ trụ sở chính: Số B khu phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Người đại diện theo pháp luật của công ty là Lê Trọng T, chức danh giám đốc. Tài khoản doanh nghiệp của Công ty Đ là số 123268368 mở tại ngân hàng thương mại cổ phần Á (A) chi nhánh L1 và tài khoản cá nhân Lê Trọng T là số 260310269 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á (A) chi nhánh L1. Công ty hoạt động từ khi thành lập đến ngày 17/7/2023 bị Cơ quan thuế báo cáo rủi ro và xác minh Công ty Đ không treo biển, không có kho bãi hoạt động chứa nguyên vật liệu, không có nhân viên thực tế, mọi hoạt động tài chính của công ty do T tự thực hiện. Công ty không lưu trữ sổ sách kế toán, sổ chi tiết vật tư hàng hóa và có dấu hiệu vi phạm nên đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan điều tra.
Khoảng đầu tháng 6/2022, Lê Trọng T có quen biết với Nguyễn Quang T2, sinh năm 1990, nơi thường trú: Số C P, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; là nhân viên đại diện cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Q (gọi tắt Công ty Q), địa chỉ tại xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng do bà Huỳnh Thị Trúc H1 (là vợ của Nguyễn Quang T2), sinh năm 1985, nơi thường trú: Số C P, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng làm giám đốc để xin chia lại các gói thầu phụ đối với các gói thầu thi công mà Công ty Q đang làm, đồng thời Thể biết Công ty Q cần hóa đơn đầu vào đối với mặt hàng cát, đá xây dựng để hợp thức nguồn gốc vật liệu nhằm quyết toán tiền với Nhà nước nên khi T2 đề nghị mua hóa đơn thì T và T2 bàn bạc, thống nhất T xuất khống hóa đơn chứng từ cát và đá xây dựng cho Công ty Q, khi T2 nhận hóa đơn thì sẽ chuyển tiền cho T và T2 sẽ trả tiền cho T 8% giá trị hàng hóa trên mỗi hóa đơn; để hợp thức cho việc mua bán hóa đơn này T đã lập hợp đồng kinh tế và biên bản giao nhận hàng hóa cho công ty Q. Khi T2 nhận hóa đơn thì Công ty Q lập phiếu ủy nhiệm chi gửi cho T để T tự rút tiền rồi chuyển khoản trả lại vào tài khoản cá nhân của T2 tại Ngân hàng M số tài khoản 0400102030405 đứng tên Nguyễn Quang T2. Ngoài việc T xuất hóa đơn khống theo thỏa thuận trên nhằm hưởng tiền chênh lệch thì giữa Công ty Đ và Công ty Q không có giao dịch thực tế.
Để hợp thức hóa đơn đầu vào và đầu ra, thu được phần trăm lợi nhuận chênh lệch từ việc mua hóa đơn 4%, bán hóa đơn 8% và không phải chịu
thêm thuế, T đã liên hệ với một người phụ nữ tên H2 (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mà T biết trước đó đặt vấn đề mua hóa đơn giá trị gia tăng trái phép với nội dung mặt hàng cát, đá xây dựng nhằm để hạch toán đầu vào rồi mới xuất bán hóa đơn trái phép cho Công ty Q. H2 đồng ý, để hợp thức hóa cho hóa đơn này thì giữa Công ty Đ và Công ty TNHH Đ1, địa chỉ 3 đường số E, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh, đại diện là ông Vương B - Giám đốc đã ký Hợp đồng kinh tế số 08-06/2022/HĐKT ngày 16/6/2022 mua bán cát xây dựng được H2 gửi qua bưu điện cho T cùng với bản nháp in từ hệ thống hóa đơn điện tử số 01GTKT0/001 - ký hiệu VB/21E - số 0008062 ngày 01/7/2022 với nội dung hàng hóa cát xây dựng 20.000m³, đá 1x2 20.000m³ và đá 04 2.500m³, cộng tiền hàng hóa trên hóa đơn là 7.275.000.000 đồng, tiền thuế GTGT 727.500.000 đồng, tổng cộng tiền thanh toán 8.002.500.000 đồng. Theo thỏa thuận thì T phải trả cho H2 số tiền 291.000.000 đồng (tương ứng với 4% giá trị hàng hóa trên hóa đơn). Tuy nhiên sau đó T chỉ trả cho H2 70.000.000 đồng, còn lại 221.000.000₫ do không đủ tiền trả nên H2 không phát hành chính thức hóa đơn điện tử số 01GTKT0/001 - ký hiệu VB/21E - số 0008062 cho Thể.
Qua kiểm tra xác định Công ty TNHH Đ1 không hoạt động kinh doanh thực tế tại địa chỉ đăng ký trụ sở. Chi cục thuế quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đã đóng mã số thuế của Công ty này theo Thông báo số 14573/TB-CCTGV ngày 07/06/2022, ban hành công văn số 24986/CCTGV-KT2 ngày 22/09/2022 về việc cảnh báo doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro cao về thuế, hoá đơn và có dấu hiệu gian lận về thuế. Đối với giám đốc Công ty TNHH Đ1 thì qua xác minh ông Vương B, sinh năm 1965, nơi cư trú: 219/20/16 đường T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh khai nhận bản thân hành nghề lái xe ôm, không biết công ty này.
Sau khi tìm mua hóa đơn trái phép để hạch toán tiền, hàng hóa đầu vào, Lê Trọng T đã sử dụng tài khoản hóa đơn điện tử của Công ty Đ để phát hành, bán 19 hóa đơn GTGT điện tử trái phép cho các doanh nghiệp, tổ chức nhằm hưởng lợi khoản tiền chênh lệch như sau:
- Công ty TNHH Q, địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng:
Từ tháng 06/2022 đến tháng 7/2023, Lê Trọng T đã sử dụng tài khoản hóa đơn điện tử của Công ty Đ xuất khống 08 hóa đơn điện tử (trong đó có 01 hóa đơn bị xóa bỏ) ghi nội dung hàng hóa không có thật là cát, đá xây dựng cho Công ty Q. Nguyễn Quang Trung trực T3 liên hệ với T để mua các hóa đơn trái phép trên. Tổng giá trị hàng hóa cát, đá xây dựng ghi trong 07 hóa đơn là 8.624.819.498 đồng, tính thuế GTGT là 862.481.950 đồng, tổng số tiền thanh toán của 07 hóa đơn là 9.487.301.448 đồng. Cụ thể các hóa đơn Thể đã phát hành bán trái phép gồm:
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 1 ngày 21/06/2022, giá trị hàng hóa 300.000.000 đồng, thuế 30.000.000 đồng, tổng 330.000.000 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 9 ngày 14/07/2022, giá trị hàng hóa 450.000.000 đồng, thuế 45.000.000 đồng, tổng 495.000.000 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 16 ngày 27/07/2022, giá trị hàng hóa 1.318.184.000 đồng, thuế 131.818.400 đồng, tổng 145.002.400 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 24 ngày 13/10/2022, giá trị hàng hóa 636.635.498 đồng, thuế 36.663.550 đồng, tổng 700.299.047 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C23TTH – số 1 ngày 10/01/2023, giá trị hàng hóa 2.000.000.000 đồng, thuế 200.000.000 đồng, tổng 2.220.000.000 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C23TTH – số 4 ngày 07/02/2023, giá trị hàng hóa 2.000.000.000 đồng, thuế 200.000.000 đồng, tổng 2.220.000.000 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C23TTH – số 12 ngày 16/5/2023, giá trị hàng hóa 1.920.000.000 đồng, thuế 192.000.000 đồng, tổng 2.112.000.000 đồng. Đối với hóa đơn này bị lỗi nên hai bên thực hiện thao tác thanh loại, xóa khỏi hệ thống hóa đơn điện tử.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C23TTH – số 14 ngày 11/7/2023, giá trị hàng hóa 1.920.000.000 đồng, thuế 192.000.000 đồng, tổng 2.112.000.000 đồng.
Để hợp thức các hóa đơn trên, Công ty Đ và Công ty Q đã lập nhiều Hợp đồng kinh tế về việc mua bán cát, đá xây dựng kèm theo là các Biên bản nghiệm thu giao nhận hàng hóa khác nhau. Các hợp đồng và biên bản này đều có chữ ký của Lê Trọng T, đóng dấu của Công ty Đ tại bên bán, chữ ký của bà Huỳnh Thị Trúc H1 và đóng dấu của Công ty Q tại bên mua. Mỗi lần phát hành hóa đơn điện tử với trị giá hàng hóa trên 20 triệu đồng thì theo quy định phải chuyển khoản nên Công ty Q do bà H1 ký ủy nhiệm chi cho từng lần giao dịch rồi giao ủy nhiệm chi này cho T, T sử dụng ủy nhiệm chi này chuyển tiền vào tài khoản số 123268368 của Công ty Đ với tổng số tiền 9.985.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, T chuyển tiền từ tài khoản của Công ty D.T.H vào tài khoản cá nhân của T số 260310269, sau đó T chuyển khoản trả lại vào tài khoản của Nguyễn Quang T2 số 0400102030405 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (M) Chi nhánh L1 tổng số tiền 9.944.868.996 đồng. Số tiền còn lại là 40.131.004 đồng thì T rút tiền mặt trả cho T2 25.000.000 đồng, tiền phí rút tiền là 2.650.449 đồng và T2 cho T tiền
chi phí đi lại thực hiện giải ngân cho T2 là 10.360.000 đồng, còn lại 2.120.555 đồng Thể sử dụng chi tiêu cá nhân. Do T và T2 đã thỏa thuận với nhau từ trước về việc T2 trả cho T 8% tiền mua hóa đơn tính theo giá trị hàng hóa, tương ứng với số tiền 689.985.560 đồng và T trả tiền hàng hóa đầu vào là 4% nên T sẽ được hưởng chênh lệch, thu lợi số tiền là 344.992.780 đồng. Tuy nhiên trong thời gian này T2 nhiều lần chuyển khoản trả tiền mua hóa đơn cho T với tổng số tiền được xác định là 150.000.000 đồng, số tiền còn lại T2 chưa trả thì hành vi của T bị phát hiện.
Đối với Huỳnh Thị Trúc H1 là người đã trực tiếp ký kết các hợp đồng kinh tế và biên bản giao nhận hàng với T thì bà H1 chỉ là người đại diện theo pháp luật của công ty, còn mọi hoạt động điều hành công ty là do Nguyễn Quang T2 chồng bà H1 thực hiện. Do đó bà H1 không biết việc mua bán hóa đơn giữa Công ty Đ và Công ty Q.
Tổng số tiền thu lợi bất chính từ 07 hóa đơn giá trị gia tăng không kèm hàng hóa xuất bán cho Công ty Q là 150.000.000 đồng + 2.120.555 đồng = 152.120.555 đồng.
- Công ty TNHH K, địa chỉ: Thôn L, xã T, tỉnh Lâm Đồng (gọi tắt Công ty K):
Lê Trọng T và Tạ Trung T4, sinh năm 1985, nơi thường trú Thôn L, xã T, tỉnh Lâm Đồng là Giám đốc Công ty K có quen biết nhau từ trước nên T4 biết việc T xuất khống hóa đơn cát, đá cho Công ty Q, nên T4 nói với T về việc Công ty K có nhu cầu mua hóa đơn GTGT để hợp thức nguồn cát xây dựng không có chứng từ và đề nghị T xuất cho Công ty K 01 hóa đơn điện tử thì T đồng ý. T4 đưa số liệu cần xuất hóa đơn là khoảng 3.200m³ cát xây dựng, số tiền hàng hóa từ 1.500.000.000 đồng đến 1.600.000.000 đồng. Thể sử dụng máy tính xách tay đăng nhập phần mềm hóa đơn điện tử để phát hành đến Công ty K Phát hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 12 ngày 16/07/2022, với giá trị hàng hóa là 1.592.500.000 đồng, thuế 159.250.000 đồng, tổng 1.751.750.000 đồng. Để hợp thức hóa đơn, T soạn hợp đồng kinh tế rồi ký tên, đóng dấu Công ty Đ đưa cho T4 ký tên, đóng dấu Công ty K vào hợp đồng; T4 viết ủy nhiệm chi theo hình thức Công ty K vay ngân hàng để thanh toán cho Công ty Đ. Tuy nhiên sau đó Ngân hàng chỉ giải ngân cho vay số tiền 1.370.000.000 đồng và chuyển toàn bộ số tiền này vào tài khoản số 123268368 của Công ty Đ. Ngày 20/7/2022, T chuyển số tiền này vào tài khoản cá nhân của T và rút tiền mặt toàn bộ số tiền này trả cho T4. Thể xuất hóa đơn giúp T4 nên T4 cho T số tiền 5.000.000 đồng để cảm ơn.
Đến ngày 27/12/2022, Tạ Trung T4 tiếp tục nhờ T xuất khống 01 hóa đơn bán cát cho T4 với số tiền trên hóa đơn khoảng 150.000.000 đồng. Thể tiếp tục sử dụng tài khoản Công ty Đ phát hành đến Công ty K Phát hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 32, giá trị hàng hóa 136.090.000 đồng, thuế
13.609.000 đồng, tổng cộng là 149.699.000 đồng. Sau khi xuất hóa đơn thì T4 cho T số tiền 12.000.000 đồng để cảm ơn. Tuy nhiên sau đó T4 không đủ tiền chuyển khoản vào tài khoản Công ty Đ để hợp thức hóa đơn nên T và T4 thống nhất sau này cơ quan thuế kiểm tra sẽ giải trình và thanh loại vì không phát sinh giao dịch mua, bán theo quy định. Thể xuất 02 hóa đơn GTGT không kèm hàng hóa trên cho T4 và thu lợi tổng số tiền là 17.000.000 đồng.
- Trung tâm T6, địa chỉ: Phường Đ, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh:
Từ ngày 08/07/2022 đến ngày 17/07/2022, Trung tâm T6 tham gia thi đấu giải cờ vua toàn quốc tổ chức tại thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình thi đấu đoàn thể thao lưu trú tại khách sạn trên đường B, thành phố Đ (do thời gian đã lâu không xác định được địa chỉ khách sạn), đại diện của đoàn thể thao là bà Văng Thị Thu H3, sinh năm 1979, nơi cư trú: 125/51/36 đường B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu xuất hóa đơn phòng nghỉ cho đoàn thì được giới thiệu liên hệ với một người phụ nữ tên L (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) là người quen của Tạ Trung T4, L nhờ T4 tìm nơi xuất hóa đơn phòng nghỉ thì T4 giới thiệu T. Do Công ty Đ có đăng ký kinh doanh mã ngành dịch vụ lưu trú nên T nảy sinh ý định xuất khống hóa đơn để thu lời, T đồng ý xuất hóa đơn cho bà H3. Sau đó bà H3 đã tự liên hệ qua điện thoại với T, T yêu cầu bà H3 phải trả tiền để xuất hóa đơn, số tiền này phải chuyển riêng cho T không tính vào tiền phòng thanh toán tại khách sạn. Bà H3 cho T biết Trung tâm T6 chỉ thực hiện quyết toán tiền phòng khách sạn T7 là 450.000 đồng/1 ngày và yêu cầu phải lấy hóa đơn từng ngày, T đề nghị bà H3 phải trả số tiền 19.500.000 đồng để lấy hóa đơn thì bà H3 đồng ý. Ngày 08/7/2022 và ngày 11/07/2022 bà H3 chuyển tiền vào tài khoản A số 260310269 của T số tiền 20.000.000 đồng, trong đó có 500.000 đồng tiền cảm ơn, T không nhận mà chuyển trả lại 500.000 đồng này cho bà H3. Trong thời gian này, T sử dụng tài khoản hóa đơn điện tử của Công ty Đ phát hành tổng cộng 10 hóa đơn trái phép với tổng giá trị dịch vụ (phòng nhà nghỉ) theo hóa đơn là 127.777.778 đồng, thuế GTGT 10.222.222 đồng, tổng giá trị thanh toán là 138.000.000 đồng cho Trung tâm T6 với hình thức xuất trên hệ thống rồi gửi đường link file hóa đơn cho bà H3.
Các hóa đơn Thể đã phát hành và bán trái phép như sau:
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 2 ngày 08/07/2022, nội dung là 31 phòng nghỉ với số tiền 12.777.777,8 đồng, thuế 1.022.222,22 đồng, tổng 13.800.000,02 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 3 ngày 09/07/2022, nội dung là 31 phòng nghỉ với số tiền 12.777.777,8 đồng, thuế 1.022.222,22 đồng, tổng 13.800.000,02 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 4 ngày 10/07/2022, nội dung là 31 phòng nghỉ với số tiền 12.777.777,8 đồng, thuế 1.022.222,22 đồng, tổng 13.800.000,02 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 5 ngày 11/07/2022, nội dung là 31 phòng nghỉ với số tiền 12.777.777,8 đồng, thuế 1.022.222,22 đồng, tổng 13.800.000,02 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 6 ngày 12/07/2022, nội dung là 31 phòng nghỉ với số tiền 12.777.777,8 đồng, thuế 1.022.222,22 đồng, tổng 13.800.000,02 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 7 ngày 13/07/2022, nội dung là 31 phòng nghỉ với số tiền 12.777.777,8 đồng, thuế 1.022.222,22 đồng, tổng 13.800.000,02 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 8 ngày 14/07/2022, nội dung là 31 phòng nghỉ với số tiền 12.777.777,8 đồng, thuế 1.022.222,22 đồng, tổng 13.800.000,02 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 10 ngày 15/07/2022, nội dung là 31 phòng nghỉ với số tiền 12.777.777,8 đồng, thuế 1.022.222,22 đồng, tổng 13.800.000,02 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 11 ngày 16/07/2022, nội dung là 31 phòng nghỉ với số tiền 12.777.777,8 đồng, thuế 1.022.222,22 đồng, tổng 13.800.000,02 đồng.
- - Hóa đơn GTGT ký hiệu 1C22TTH – số 13 ngày 17/07/2022, nội dung là 31 phòng nghỉ với số tiền 12.777.777,8 đồng, thuế 1.022.222,22 đồng, tổng 13.800.000,02 đồng.
Sau khi xuất đủ 10 hóa đơn trái phép trên, T đã tự ý vào hệ thống hóa đơn điện tử xóa đi 03 hóa đơn ký hiệu 1C22TTH – số 2 ngày 08/07/2022, số 3 ngày 09/07/2022 và số 4 ngày 10/07/2022 nhằm giảm phát sinh chi phí hàng hóa, dịch vụ bán ra của Công ty Đ. Do Công ty D.T.H không chứng minh được tiền, hàng hóa đầu vào với cơ quan thuế nên T không thụ hưởng được số tiền chênh lệch sau khi xóa hóa đơn. Thể thu lợi từ hành vi bán 10 hóa đơn này với số tiền 19.500.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định ngày 02/12/2024, Tổ giám định theo quyết định số 2095/QĐ-CTLDO của Cục Thuế tỉnh L xác định: Hành vi của Lê Trọng T không gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước, người gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước là những đối tác mua hóa đơn khống do công ty Đ bán nếu các đối tác này đưa các hóa đơn mua từ Công ty Đ vào sử dụng để kê khai và khấu trừ thuế GTGT đầu vào làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc
làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp.
Lê Trọng T có hành vi mua, bán trái phép hóa đơn nhưng không sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp nên không có hành vi trốn thuế.
Số tiền T thu lợi bất chính từ hành vi bán trái phép 19 hóa đơn được xác định là 152.120.555 + 19.500.000 + 17.000.000 = 188.620.555 đồng. Toàn bộ số tiền này T đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Tang vật vụ án thu giữ: 01 máy tính xách tay kèm 01 máy in được Thể sử dụng để đăng nhập, phát hành và xuất bán hóa đơn điện tử trái phép; 01 token chữ ký số của Lê Trọng T - Giám đốc Công ty Đ; 01 con dấu tròn đỏ của Công ty Đ và 01 đoạn dây cáp màu đen dài 1,8m.
Tại Bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 28/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng đã truy tố Lê Trọng T về tội “Phát hành, mua bán trái phép hóa đơn” theo điểm đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HS-ST ngày 14/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng đã xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Trọng T phạm tội “Phát hành, mua bán trái phép hóa đơn”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Trọng T 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo T.
Buộc bị cáo T phải nộp vào ngân sách Nhà nước tiền thu lợi bất chính là 188.620.555 đồng.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/11/2025, bị cáo Lê Trọng T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm
Bị cáo T không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản án sơ thẩm, khai nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã xét xử, giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Trọng T trong hạn luật định, nội dung đảm bảo theo quy định tại Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ cơ sở để xem xét theo trình tự phúc thẩm. Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Về tội danh và hình phạt: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Trọng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã nhận định, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận: Bị cáo T là chủ sở hữu đồng thời là giám đốc Công ty TNHH Đ được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 5801481368 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh L cấp đăng ký lần đầu ngày 11/3/2022. Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2022 đến 17/7/2022, bị cáo T đã có hành vi phát hành, bán 19 hóa đơn giá trị gia tăng ghi nội dung dưới dạng hóa đơn điện tử nhưng không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo cho các cá nhân khác nhằm thu lợi bất chính với tổng số tiền 188.620.555 đồng, trong đó: T đã bán 07 hóa đơn giá trị gia tăng không kèm xuất bán hàng hóa cho người mua hàng là Công ty TNHH Q do bà Trần Thị Thu H4 đứng tên chủ sở hữu đồng thời là giám đốc Công ty, số tiền T thu lợi bất chính là 152.120.555 đồng và bán 02 hóa đơn giá trị gia tăng không kèm hàng hóa cho người mua hàng là Công ty TNHH K, số tiền T thu lợi bất chính là 17.000.000 đồng và bán cho bà Văng Thị Thu H3 10 hóa đơn xuất tên người mua là Trung tâm T6, T thu lợi bất chính là 19.500.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo T về tội “Phát hành, mua bán trái phép hóa đơn” theo điểm đ khoản 2 Điều 203 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện, đồng thời áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 quyết định hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là phù hợp quy định của pháp luật và đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo.
[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo T thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phát hành, mua bán trái phép hóa đơn là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lợi bị cáo vẫn thực hiện, thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong việc quản lý hóa đơn, chứng từ, thu nộp ngân sách Nhà nước, gây ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định, bền vững của nền kinh tế đất nước.
Mặc dù sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp lại 10.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính trong tổng số tiền 188.620.555 đồng thu lợi bất chính mà bản án sơ thẩm đã buộc bị cáo phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, số tiền thu lợi bất chính bị cáo tự nguyện nộp này chưa được ít nhất một phần hai số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội của bị cáo, nên không có căn cứ áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ người phạm tội tự nguyên nộp tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4]. Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Trọng T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Tuyên bố bị cáo Lê Trọng T phạm tội: “Phát hành, mua bán trái phép hóa đơn”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Trọng T 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lê Trọng T.
- Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo Lê Trọng T phải nộp vào ngân sách Nhà nước tiền thu lợi bất chính là 188.620.555 (Một trăm tám mươi tám triệu sáu trăm hai mươi nghìn năm trăm năm mươi lăm) đồng.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) máy tính xách tay hiệu Intel màu ghi được niêm phong bằng giấy niêm phong; 01 (một) máy in hiệu Canon LBP 2900 màu trắng đã qua sử dụng được niêm phong bằng giấy niêm phong có chữ ký của Hoàng Văn T5 và Lê Trọng T.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đoạn dây cáp màu đen dài 1,8m được quấn bằng giấy A4; 01 (một) token màu bạc có nắp màu đen số 5405210611010155 đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì bưu điện; 01 (một) con dấu tròn đỏ của Công ty TNHH Đ2. T.H được niêm phong trong một phong bì màu trắng.
(Tất cả các vật chứng có đặc điểm như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 03/10/2025).
- Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Trọng T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc |
Bản án số 17/2026/HS-PT ngày 29/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự: phát hành, mua bán trái phép hóa đơn
- Số bản án: 17/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Phát hành, mua bán trái phép hóa đơn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép hóa đơn
