Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG

----------
Bản án số: 17/2026/HNGĐ-ST
Ngày 06 tháng 01 năm 2026
V/v "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-----------------------

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa:Lê Thị Thúy Hằng
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Văn Đời
    • Nguyễn Thị Kim Ngân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 359/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 359/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 158/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh B, sinh ngày: 27/7/1976; Địa chỉ: Số D T - Khu B, phường N, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)

- Bị đơn:Nguyễn Thị H, sinh ngày: 19/5/1985; Địa chỉ: P nhà G - Khu C, phường S, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh B trình bày:

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh B và bà Nguyễn Thị H kết hôn với nhau vào năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng Trong quá trình chung sống, vợ chồng ông bà luôn bất đồng quan điểm, lối sống, thường xuyên cãi vã. Từ năm 2022 vợ chồng bắt đầu sống ly thân, bà H về sống tại phòng 503 nhà G - Khu C, phường S, thành phố Đà Nẵng, không còn quan tâm lẫn nhau. Nay ông Nguyễn Thanh B yêu cầu Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.

Về con chung: Ông Nguyễn Thanh B xác định vợ chồng ông bà có 01 con chung là Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 14/9/2019. Con chung hiện đang do bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn, ông Nguyễn Thanh B đề nghị Toà án giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 01 năm 2026 cho đến khi con chung thành niên.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Thanh B xác định vợ chồng ông không có tài sản và nợ chung.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên bà vẫn vắng mặt, không có ý kiến.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đã không chấp hành các quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 116, 117, 118 Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh B đối với bà Nguyễn Thị H. Về hôn nhân: Cho ông Nguyễn Thanh B được ly hôn với bà Nguyễn Thị H; Về con chung: Giao con chung Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 14/9/2019 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên. Ông Nguyễn Thanh B cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 01 năm 2026 cho đến khi con chung thành niên. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Thanh B xác định không có tài sản chung và nợ chung, đối với bà Nguyễn Thị H vắng mặt không có ý kiến về tài sản và nợ chung nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn bà Nguyễn Thị H cư trú tại phường S, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3]. Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Thanh B và bà Nguyễn Thị H xác lập trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ông Nguyễn Thanh B xác định trong quá trình chung sống giữa vợ chồng ông bà có phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, lối sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Vợ chồng đã sống ly thân 3 năm, không còn quan tâm lẫn nhau. Đối với bà Nguyễn Thị H vắng mặt, không có ý kiến gì. Hội đồng xét xử thấy rằng giữa các bên đương sự có mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến việc các bên lựa chọn sống ly thân là có thật, việc bị đơn bà Nguyễn Thị H không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa cho thấy bà không còn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, đời sống chung giữa hai người đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Thanh B phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông Nguyễn Thanh B được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.

[2.2]. Về con chung: Ông Nguyễn Thanh B xác định vợ chồng ông có 01 con chung chưa thành niên. Ly hôn, ông Nguyễn Thanh B yêu cầu Toà án giao con cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy: Thực tế hiện nay con chung đang sống với bà Nguyễn Thị H có chính quyền địa phương xác nhận, con chung phát triển bình thường, do đó để đảm bảo sự ổn định của con chung, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thanh B, tiếp tục giao con chung cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Thanh B tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 01 năm 2026 cho đến khi con chung thành niên. Xét thấy việc cấp dưỡng nuôi con là cần thiết và vì lợi ích của con chung nên hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Thanh B xác định vợ chồng ông không có tài sản chung và nợ chung. Đối với bà Nguyễn Thị H vắng mặt không có ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Thanh B phải chịu 300.000 đồng án phí tranh chấp hôn nhân và gia đình và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

[5]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” của ông Nguyễn Thanh B đối với bà Nguyễn Thị H.

  1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh B được ly hôn với bà Nguyễn Thị H (Giấy chứng nhận kết hôn số 92/2019 do Ủy ban nhân dân phường H, quận N (Nay là Ủy ban nhân dân phường N), thành phố Đà Nẵng cấp ngày 02/7/2019 không còn giá trị pháp lý).
  2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 14/9/2019 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên.
    Ông Nguyễn Thanh B cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 01 năm 2026 cho đến khi con chung thành niên.
    Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.
    Kể từ ngày người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm:
    Án phí tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ông Nguyễn Thanh B phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Thanh B đã nộp theo biên lai thu số 0005338 ngày 12 tháng 11 năm 2025 của Chi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
    Án phí cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Thanh B phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
  4. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:
  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng;
  • - Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng;
  • - UBND phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Lê Thị Thúy Hằng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2026/HNGĐ-ST ngày 06/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 17/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa ông B và bà H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger