Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2026/DS- PT

Ngày 10-01-2026

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

-Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng, bà Nguyễn Thị Hằng

-Thư ký phiên toà:

Bà Nguyễn Ngọc Thương Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh:

Bà Nguyễn Thị Việt Anh– Kiểm sát viên.

Trong ngày 10/01/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 395/2025/TLPT-DS ngày 20/11/2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

Do bản án dân sự sơ thẩm số 72/2025/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 5- Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 88/2025/QĐ-PT ngày 01/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 158/2025/QĐ-PT ngày 25/12/2025 giữa:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn Q, sinh năm 1960 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn V, xã S, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1985, địa chỉ: Thôn V, xã S, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn V, xã S, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T: Công ty L1; ông Đồng Văn V, sinh năm 1984 - Giám đốc điều hành Công ty L1, địa chỉ: Tổ dân phố T, phường X, quận B, thành phố Hà Nội, địa chỉ liên hệ: Số 2ª, Ngõ A, đường X, phường X, thành phố Hà Nội (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lý Thị M, sinh năm 1962 (vắng mặt)
  2. Anh Trần Văn H1, sinh năm 1985 (vắng mặt)
  1. Trần Bá Q1, sinh năm 1984 (vắng mặt)
  2. Trần Đăng K, sinh năm 1990 (vắng mặt)
  3. Trần Thị Q2, sinh năm 1982 (vắng mặt)
  4. Vũ Thị P, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã S, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lý Thị M, anh Trần Bá Q1, anh Trần Đăng K, chị Trần Thị Q2, chị Vũ Thị P: Anh Trần Văn H, sinh năm 1985 (vắng mặt)

  1. Vũ Thị L, sinh năm 1975 (vắng mặt).
  2. Nguyễn Trọng T1, Sinh năm 1997 (vắng mặt)
  3. Nguyễn Thị Lan P1, Sinh năm 1994 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã S, tỉnh Bắc Ninh.

  1. UBND xã S, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

* Người kháng cáo: Bị đơn – ông Nguyễn Văn T (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án dân sự sơ thẩm số 72/2025/DS-ST ngày 28/9/2025, tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:

* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa nguyên đơn anh Trần Văn Q do anh Trần Văn H là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Gia đình anh có một diện tích đất rừng lâm nghiệp sử dụng vào năm 1992, đến năm 1996 được Hạt kiểm lâm huyện S giao được cấp sổ bìa xanh, diện tích 1,6ha, thuộc lô 18 khoảnh 1 cấp ngày 03/6/1996, đến năm 1998 thì được cấp đổi sang sổ bìa đỏ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSD đất) có số vào sổ cấp GCNQSD đất: 00082/QSDĐ cấp ngày 02/7/1998 (địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang) mang tên hộ ông Trần Văn Q. Sau khi giao đất,giao rừng xong thì gia đình ông T bắt đầu lấn chiếm sử dụng trồng keo nhưng ban đầu ít, gia đình anh đến nói chuyện yêu cầu trả lại đất thì gia đình ông T hứa hết vụ keo sẽ trả, nhưng hết vụ keo khoảng 7,8 năm gia đình ông T khai thác xong không trả và tiếp tục lấn chiếm, đến năm 2010 thì lấn chiếm rộng hơn trồng keo, gia đình anh đến nói chuyện thì ông T lại nói đợi trồng xong vụ keo sẽ trả, đến năm 2018 khai thác xong keo gia đình anh nói chuyện yêu cầu trả nhưng gia đình ông T không trả, tiếp tục trồng keo. Đến năm 2019 gia đình anh có đơn ra UBND xã A giải quyết nhưng UBND xã A yêu cầu gia đình anh mời cơ quan đo đạc xã giải quyết. Do gia đình ông T trồng keo nên gia đình anh đợi thu hoạch hết vụ keo xong sẽ tiếp tục yêu cầu. Đến năm 2023 gia đình ông T khai thác xong keo, gia đình anh đến nói chuyện yêu cầu trả

lại đất nhưng gia đình ông T không trả lại tiếp tục trồng keo, gia đình anh có đơn gửi ra UBND xã A tiếp tục giải quyết nhưng không thành.

Gia đình anh tiếp tục đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sơn Động giải quyết buộc gia đình ông Nguyễn Văn T trả lại diện tích đất rừng lâm nghiệp (RTS) = 11.432,6m² trong GCNQSD đất của gia đình anh.

Sau khi Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc thực tế thì diện tích tranh chấp giữa gia đình anh và gia đình ông T được xác định là = 9.904,7m² (1.918,9m² đất rừng tự nhiên và 7985,8m² đất trồng keo). Do vậy anh đề nghị Toà án Khu vực 5, tỉnh Bắc Ninh giải quyết buộc gia đình ông T phải trả lại gia đình anh diện tích theo kết quả đo đạc thực tế = 9.904,7m² đất rừng lâm nghiệp (RTS) vì diện tích đất này trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình anh, gia đình anh sẽ trả lại giá trị cây keo trên diện tích 9.904,7m² theo kết quả định giá đã tiến hành định giá. Anh đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật giải quyết đảm bảo quyền lợi cho gia đình anh.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và những lời khai tiếp theo tại Toà án cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn T do ông Đồng Văn V là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Anh đã nhận được thông báo thụ lý vụ án việc ông Trần Văn Q khởi kiện. Nguồn gốc diện tích đất này ban đầu gia đình ông T sử dụng vào năm 1992, khoảng năm 1996 - 1997 được Hạt kiểm lâm huyện S giao được cấp sổ bìa xanh, diện tích 1,6ha, thuộc lô 17 khoảnh 1. Sau khi giao đất, giao rừng xong thì gia đình ông T tiếp tục khai phá, trồng vải, sau phá vải trồng keo 3- 4 vụ, hiện nay gia đình trồng keo được 2 năm tuổi trên diện tích đất này, đến nay thì được đổi từ sổ bìa xanh sang sổ bìa đỏ. Đên đầu năm 2025 gia đình ông Q khởi kiện gửi đơn lên U nhưng không thành.

Nay ông Q khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 5 giải quyết buộc gia đình ông T phải trả gia đình ông Q tổng diện tích đất rừng lâm nghiệp (RTS) diện tích = 9.904,7m² (1.918,9m² đất rừng tự nhiên và 7985,8m² đất trồng), gia đình ông T không nhất trí vì do gia đình đã sử dụng ổn định từ năm 1992, không tranh chấp với ai, đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật giải quyết đảm bảo quyền lợi cho gia đình ông T.

Tại bản tự khai những người liên quan Lý Thị M, Trần Văn H, Trần Bá Q1, Trần Đăng K, Trần Thị Q2, Vũ Thị P đều trình bày:

Các ông bà anh chị là vợ và các con của ông Trần Văn Q, đã nhận được thông báo thụ lý vụ án việc ông Trần Văn Q khởi kiện đối với ông Nguyễn Văn T. Các anh chị xác định nguồn gốc đất ông Q khởi kiện là của gia đình đã khai phá, sử dụng từ năm 1992, đến năm 1996 được cấp sổ bìa xanh, sau đó được chuyển sang sổ bìa đỏ. Ông Trần Văn Q khởi kiện, các ông bà anh chị đều nhất trí và

đều ủy quyền cho anh Trần Văn H tham gia giải quyết vụ án từ đầu đến kết thúc vụ án.

Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vũ Thị L trình bày:

Chị đã nhận được thông báo thụ lý vụ án việc ông Trần Văn Q khởi kiện. Chị là vợ anh Nguyễn Văn T, chị xác định nguồn gốc diện tích đất tranh chấp gia đình chị sử dụng vào năm 1992, khoảng năm 1996 - 1997 được Hạt kiểm lâm huyện S giao được cấp, được cấp sổ bìa xanh, diện tích 1,6ha, thuộc lô 17 khoảnh 1. Sau khi giao đất, giao rừng xong thì gia đình chị tiếp tục khai phá, trồng vải, sau phá vải trồng keo 3- 4 vụ, hiện nay gia đình trồng keo trên diện tích đất này, đến nay thì được đổi từ sổ bìa xanh sang sổ bìa đỏ. Đến đầu năm 2025 gia đình ông Q khởi kiện gửi đơn lên U nhưng không thành.

Nay ông Q khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 5 giải quyết buộc gia đình chị phải trả gia diện tích đất rừng lâm nghiệp (RTS) = 9.904,7m² (1.918,9m² đất rừng tự nhiên và 7985,8m² đất trồng keo), chị không nhất trí, do gia đình chị sử dụng ổn định từ năm 1992 đến nay, không tranh chấp với ai, chị đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật giải quyết đảm bảo quyền lợi cho gia đình chị.

Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Trọng T1, chị Nguyễn Thị Lan P1 trình bày:

Các anh chị là con đẻ ông Vũ Văn T2 và bà Vũ Thị L, đều nhận được thông báo thụ lý vụ án việc ông Trần Văn Q khởi kiện đối với với bố mẹ anh chị đòi diện tích đất rừng lâm nghiệp. Các anh chị đều xác định diện tích đất này do bố mẹ chị khai phá sử dụng từ năm 1993, được cấp GCNQSD đất. Đến năm 2024 thì ông Q khởi kiện, các anh chị không nhất trí vì diện tích đất này gia đình anh chị sử dụng ổn định từ năm 1993 đến nay. Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật giải quyết. Do công việc bận các anh chị đều ủy quyền cho bố Nguyễn Văn T tham gia giải quyết vụ án từ đầu đến khi kết thúc vụ án.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan UBND xã S do ông Ngọc Đức V1 là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Sau khi xem xét hồ sơ cấp GCNQSD đất cho hộ ông Trần Văn Q và hộ ông Nguyễn Văn T và các tài liệu liên quan UBND huyện S có ý kiến như sau:

Việc cấp GCNQSD (Sổ bìa xanh) cũng như việc cấp đổi GCNQSD đất (Sổ bìa đỏ) cho hộ ông Trần Văn Q và hộ ông Nguyễn Văn T được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền.

Hộ ông Trần Văn Q được cấp GCNQSÐ đất lâm nghiệp (sổ bìa xanh) số: 197 ngày 3/7/ 1996, diện tích 1,6 ha, thuộc lô 18, khoảnh 1 mang tên hộ Trần Văn Q. Đến năm 1998 được đổi từ sổ xanh sang sổ đỏ có GCNQSD có số vào sổ cấp

GCNQSD đất: 00082/QSDĐ cấp ngày 02/7/1998, diện tích 1,6 ha, thuộc lô 18, khoảnh 1 (Địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Gang).

Hộ ông Nguyễn Văn T được cấp GCNQSÐ đất lâm nghiệp (sổ bìa xanh) số: 215 ngày 3/6/1996, diện tích 1,6 ha, thuộc lô A, khoảnh 1 mang tên hộ Nguyễn Văn T. Đến năm 1999 được đổi từ sổ xanh sang sổ đỏ có GCNQSDĐ có số vào sổ cấp GCNQSD đất: 00199/QSDĐ cấp ngày 02/7/1999, diện tích 16.000 m2, thuộc lô 17, khoảnh 1 (Địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Gang).

Theo kết quả đo dạc thực tế thì thì thấy:

Diện tích ông Trần Văn Q được cấp GCNQSĐ đất lâm nghiệp tại lô 18, khoảnh 1 = 16.000m².

Diện tích ông Trần Văn Q sử dụng thực tế: 2.973,9m² (Trồng keo) + 977,4m² (cây rừng tự nhiên) = 3.951,3m².

Diện tích nằm trong GCNQSD đất của nhà ông Q là mương thoát nước: 120,6m².

Dện tích ông Q thiếu so với GCNQSD đất: 11.928,1m².

Diện tích ông Nguyễn Văn T được cấp GCNQSD đất lâm nghiệp tại lô A, khoảnh 1 = 16.000m².

Diện tích theo kết quả đo đạc thực tế tại lô 17, khoảnh 1 = 14.182,2m². Thiếu 1.817,8m² so với GCNQSD đất ông T được cấp.

Diện tích tranh chấp giữa gia đình ông Trần Văn Q và gia đình ông Nguyễn Văn T: 7.985,8 + 1.918,9 m2 = 9.904,7m² (Trong đó có: 7985,8 m² trồng keo, còn lại 1.918,9m² là rừng tự nhiên).

Toàn bộ diện tích tranh chấp 7.985,8m² + 1.918,9m² = 9.904,7m² nằm trong GCNQSD (sổ bìa xanh) ông Trần Văn Q được cấp tại Lô A, khoảnh 01 được đổi sang sổ bìa đỏ có GCNQSD đất có số vào sổ cấp GCNQSD đất: 00082/QSDĐ cấp ngày 02/7/1998, diện tích 1,6 ha, thuộc lô 18, khoảnh 1. (Địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Gang).

Việc tăng giảm GCNQSD đất do nhiều nguyên nhân như trước đây đo vẽ bằng phương pháp thủ công nay bằng máy móc nên độ chính xác cao hơn.

Việc tranh chấp là do các hộ tự ý sử dụng không đúng diện tích ranh giới được giao.

Việc tăng giảm GCNQSD đất do nhiều nguyên nhân như trước đây đo vẽ bằng phương pháp thủ công nay bằng máy móc nên độ chính xác cao hơn.

Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các bên, do công việc bận ông xin được vắng mặt tại các buổi làm việc, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử.

Tại biên bản làm việc với Hạt kiểm lâm liên xã S xác định:

Ngày 03/7/1996 hộ ông Trần Văn Q được cấp GCNQSÐ đất lâm nghiệp (sổ bìa xanh) số: 197 ngày 3/7/ 1996, diện tích 1,6 ha, thuộc lô 18, khoảnh 1, đến năm 1998 được đổi từ sổ xanh sang sổ đỏ có GCNQSD có số vào sổ cấp GCNQSD đất: 00082/QSDĐ cấp ngày 02/7/1998, diện tích 1,6 ha, thuộc lô 18, khoảnh 1 (Địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Gang).

Ngày 03/6/1996 hộ ông Nguyễn Văn T được cấp GCNQSÐ đất lâm nghiệp (sổ bìa xanh) số: 215 ngày 3/6/1996, diện tích 1,6 ha, thuộc lô A, khoảnh 1, đến năm 1999 được đổi từ sổ xanh sang sổ đỏ có GCNQSDĐ có số vào sổ cấp GCNQSD đất: 00199/QSDĐ cấp ngày 02/7/1999, diện tích 16.000 m², thuộc lô 17, khoảnh 1 (địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Gang). Việc cấp GCNQSD đất (sổ bìa xanh) cũng như việc cấp đổi GCNQSD đất (Sổ bìa đỏ) được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền.

Theo kết quả đo dạc thực tế tại lô 18, khoảnh 01 thì thấy:

Diện tích ông Trần Văn Q được cấp GCNQSÐ đất lâm nghiệp tại lô 18, khoảnh 1 = 16.000m².

Diện tích ông Trần Văn Q sử dụng thực tế: 2.937,9 m2 (Trồng keo) + 977,4 m2 (cây rừng tự nhiên) = 3.951,3m².

Diện tích nằm trong GCNQSD đất của nhà ông Q là mương thoát nước: 120,6m².

Dện tích ông Q thiếu so với GCNQSD đất: 11.928,1m².

Diện tích ông Nguyễn Văn T được cấp GCNQSD đất lâm nghiệp tại lô A, khoảnh 1 = 16.000m².

Diện tích theo kết quả đo đạc thực tế tại lô 17, khoảnh 1 = 14.182,2m². Thiếu 1.817,8m² so với GCNQSD đất ông T được cấp.

Diện tích tranh chấp giữa gia đình ông Trần Văn Q và gia đình ông Nguyễn Văn T: 7.985,8m² + 1.918,9m² = 9.904,7m² (Trong đó có: 7985,8 m² trồng keo, còn lại 1.918,9m² là rừng tự nhiên).

Toàn bộ diện tích tranh chấp 7.985,8m² + 1.918,9m² = 9.904,7m2 nằm trong GCNQSD (sổ bìa xanh) ông Trần Văn Q được cấp tại Lô A, khoảnh 01 được đổi sang sổ bìa đỏ có GCNQSD đất có số vào sổ cấp GCNQSD đất: 00082/QSDĐ cấp ngày 02/7/1998, diện tích 1,6 ha, thuộc lô 18, khoảnh 1 (Địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Gang).

Việc tăng giảm GCNQSD đất do nhiều nguyên nhân như trước đây đo vẽ bằng phương pháp thủ công nay bằng máy móc nên độ chính xác cao hơn.

Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/5/2025 xác định tài sản tranh chấp như sau:

Xác định diện tích hộ ông Trần Văn Q được cấp GCNQSÐ đất lâm nghiệp (sổ bìa xanh) số: 197 ngày 3/7/ 1996, diện tích 1,6 ha, thuộc lô 18, khoảnh 1 mang

tên hộ Trần Văn Q. Đến năm 1998 được đổi từ sổ xanh sang sổ đỏ có GCNQSD có số vào sổ cấp GCNQSD đất: 00082/QSDĐ cấp ngày 02/7/1998, diện tích 1,6 ha, thuộc lô 18, khoảnh 1. (Địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Gang).

Xác định diện tích ông Trần Văn Q sử dụng thực tế theo GCNQSD đất: 2.973,9 m² (Trồng keo) + 977,4 m² (cây rừng tự nhiên) = 3.951,3m².

Diện tích ông Trần Văn Q được cấp GCNQSD đất hiện nay mương thoát nước: 120,6m².

Xác định diện tích hộ Nguyễn Văn T được cấp GCNQSĐ đất lâm nghiệp (sổ bìa xanh) số: 215 ngày 3/6/1996, diện tích 1,6 ha, thuộc lô A, khoảnh 1 mang tên hộ Nguyễn Văn T. Đến năm 1999 được đổi từ sổ xanh sang sổ đỏ có GCNQSDĐ có số vào sổ cấp GCNQSD đất: 00199/QSDĐ cấp ngày 02/7/1999, diện tích 16.000m², thuộc lô A, khoảnh 1 (Địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang).

Diện tích theo kết quả đo đạc thực tế ông T đang sử dụng tại lô A, khoảnh 1 = 14.182,2m².

Xác định diện tích tranh chấp giữa ông Trần Văn Q và anh Nguyễn Văn T: 9.904,7m² (1.918,9m² đất rừng tự nhiên và 7985,8m² đất trồng keo.

Xác định trên diện tích tranh chấp 9.904,7m² có:1.918,9m² đất rừng tự nhiên và 7985,8m² đất trồng keo.

Tại biên bản định giá tài sản lập ngày 30/5/2025 xác định giá trị tài sản như sau:

  • Diện tích đất tranh chấp có giá 20.000 đồng/01m² (Tính giá đất rừng sản xuất theo giá giao dịch tại địa phương):7.985,8 x 20.000đồng/1,0m² = 159.716.000 đồng.
  • Xác định tài sản trên diện tích đất tranh chấp gồm:

Diện tích 7985,8m² có cây keo trồng trên 01 năm tuổi, mất độ 38 cây/100m² x 8.000 đồng/01 cây = 24.276.832 đồng.

Diện tích 1.918,9m² có cây rừng tự nhiên hội đồng định giá không định giá cây rừng tự nhiên.

Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/92025 xác định tài sản tranh chấp như sau:

Xác định mật độ cây keo là 38 cây/100m² và xác định một số cột bê tông chôn sát đất và một thông hào. (Bị đơn Nguyễn Văn T cho rằng nguyên đơn chôn và đào thông hào để xác định ranh giới).

Tại biên bản định giá tài sản lại lập ngày 19/9/2025 xác định giá trị tài sản như sau:

  • Xác định tài sản trên diện tích đất tranh chấp gồm:

Diện tích 7985,8m² có cây keo trồng 02 năm 06 tháng tuổi, mất độ 38 cây/100m² x 20.000 đồng/01 cây = 60.692.080 đồng. (Các đương sự đều nhất trí với kết quả định giá).

Với nội dung nêu trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 5- Bắc Ninh đã quyết định:

Áp dụng các Điều 24, Điều 36, Điều 38, Điều 43, Điều 73 Luật Đất đai năm 1993; các Điều 4, Điều 5, Điều 100, Điều 135; Điều 166; Điều 202 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26; Điều 176; Điều 184 Luật đất đai năm 2024; Các Điều 138; Điều 166; Điều 175, Điều 176, Điều 257, Điều 579 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 91; Điều 93; Điều 147, Điều 156, Điều 157; Điều 164; Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn Q:

  • Buộc hộ ông Nguyễn Văn T phải trả lại cho hộ ông Trần Văn Q diện tích đất rừng lâm nghiệp (RTS) = 9.904,7m² ( 1.918,9m² đất rừng tự nhiên và 7985,8m² đất trồng cây keo) tại Lô A, khoảnh 1, mục đích sử dụng: RTS, trong GCNQSD có số vào sổ cấp GCNQSD đất: 00082/QSDĐ cấp ngày 02/7/1998 mang tên hộ ông Trần Văn Q (Địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Gang kể từ 01/7/2025 là: Thôn V, xã S, tỉnh Bắc Ninh).Có các góc cạnh cụ thể: (Từ điểm 1 đến điểm 2, từ điểm 2 đến điểm 3, từ điểm 3 đến điểm 4, từ điểm 4 đến điểm 5, từ điểm 5 đến điểm 6, từ điểm 6 đến điểm 7, từ điểm 7 đến điểm 8, từ điểm 8 đến điểm 9, từ điểm 9 đến điểm 10, từ điểm 10 đến điểm 11, từ điểm 11 đến điểm 12, từ điểm 12 đến điểm 13, tù điểm 13 đến điểm 14, từ điểm 14 về điểm 1).

Hộ ông Trần Văn Q được sở hữu và sử dụng toàn bộ cây keo trên diện tích 7.985,8m² và trông nom quản lý số cây rừng tự nhiên trên diện tích 1.918,9 m². Hộ ông Trần Văn Q trích trả giá trị tài sản cây keo trên diện tích đất 7985,8m² =60.692.080 đồng cho hộ ông Nguyễn Văn T.

(có sơ đồ thửa đất và hệ tọa độ kèm theo).

2. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về chi phí tố tụng:

Buộc ông Nguyễn Văn T phải trả cho ông Trần Văn Q số tiền 15.500.000 đồng (Mười năm triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 09/10/2025 ông Nguyễn Văn T nộp Đơn kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Q.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt

Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn thống nhất trình bày: Bị đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Diện tích đất nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả thì bị đơn đã sử dụng từ năm 1993 đến nay, việc sử dụng đất công khai, không có tranh chấp. Nguyên đơn không quản lý, không trực tiếp sử dụng đất rừng, bỏ hoang đất là vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng đất nên không có quyền đòi đất. Vị trí, diện tích, hình thể lô 17 khoảnh 1 gia đình bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với vị trí lô 17 khoảnh 1 gia đình bị đơn được giao theo giấy chứng nhận quyền quản lý kinh doanh rừng và đất lâm nghiệp ngày 03/6/1996; vị trí lô 17 khoảnh 1 theo kết quả xem xét thẩm định ngày 30/5/2025 là đúng. Hiện tại trên đất tranh chấp bị đơn đã trồng keo được khoảng 03 năm, chưa đến kỳ khai thác (chu kỳ khai thác là 05 năm).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – chị Nguyễn Thị Lan P1 trình bày: Đối với toàn bộ cây trồng trên diện tích đất tranh chấp chị không liên quan gì, chị nhất trí với trình bày của ông T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm:

  • Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp phúc thẩm: Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ và đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa chấp hành nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.
  • Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 72/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5- Bắc Ninh.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn, một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo Hợp đồng ủy quyền số 0409/HĐUQ/BKS ngày 04/9/2025 thì bị đơn ông Nguyễn Văn T ủy quyền cho Công ty L1 và ông Đồng Văn V (ông Đồng Văn V là giám đốc điều hành Công ty L1).Tại phiên tòa phúc thẩm ông T có mặt và đồng ý để ông V tiếp tục là người đại diện theo ủy quyền, ông T không có ý kiến gì về người tham gia tố tụng, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án.Do vậy, Hội đồng xet xử tiến hành xét xử vụ án là đảm bảo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn T,Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Theo biên bản giao nhận rừng và đất lâm nghiệp cùng ngày 03/6/1996 thì ông Trần Văn Q được Ủy ban nhân dân huyện S giao quản lý kinh doanh rừng và đất lâm nghiệp diện tích là 1,6ha thuộc lô 18 khoảnh 1 (bút lục số A). Ngày 02/7/1999, UBND huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 880020,số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00082 QSDĐ diện tích 16.000m² thuộc lô18 khoảnh 1, địa chỉ thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang, tên người sử dụng đất hộ ông Trần Văn Q (bl 27).

[2.2]Theo biên bản giao nhận rừng và đất lâm nghiệp cùng ngày 03/6/1996 ông Nguyễn Văn T được Ủy ban nhân dân huyện S giao quản lý kinh doanh rừng và đất lâm nghiệp diện tích là 1,6ha thuộc lô 17 khoảnh 1 (bút lục số A). Ngày 02/7/1999,UBND huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00199 QSDĐ diện tích 16.000m² thuộc lô 17 khoảnh 1, địa chỉ thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang, tên người sử dụng đất hộ ông Nguyễn Văn T (bl 24).

[2.3]Từ khi được giao đất đến khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Q, ông T không có ý kiến gì về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như không khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa phúc thẩm ông T trình bày vị trí, diện tích lô 17 khoảnh 1 hộ gia đình ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với vị trí lô 17 khoảnh 1 gia đình ông T được giao theo biên bản giao nhận, sơ đồ rừng và đất lâm nghiệp trong Giấy chứng nhận quyền quản lý kinh doanh rừng và đất lâm nghiệp cấp ngày 03/6/1996, đúng với vị trí theo kết quả xem xét thẩm định ngày 30/5/2025.

[2.4] Căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Trần Văn Q, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T, lời khai các đương sự thì lô 18 khoảnh 1 của ông Trần Văn Q và lô 17 khoảnh 1 của ông Nguyễn Văn T giáp ranh nhau, không bị giao chồng chéo và đều được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật. Mặc dù theo kết

quả đo đạc thì hiện trạng diện tích đất thuộc lô 18 khoảnh 1 của hộ ông Trần Văn Q bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 11.928,1m²; diện tích lô 17 khoảnh 1 của hộ gia đình ông Nguyễn Văn T bị thiếu so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1.817,8m² nhưng căn cứ vào kết quả chồng ghép bản đồ 02 được số hóa ngày 30/5/2025 thì diện tích là 9.904,7m² (1.918,9 m² đất rừng tự nhiên và 7985,8m² đất trồng cây keo) hiện gia đình ông T đang sử dụng nằm trong diện tích thuộc lô 18 khoảnh 01 đã được Ủy ban nhân dân huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCNQSD đất: 00082/QSDĐ cấp ngày 02/7/1999 cho hộ ông Trần Văn Q.

[2.5] Theo trình bày của Ủy ban nhân dân huyện S (bl 97) thì việc tăng giảm diện tích đất so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do nhiều nguyên nhân như trước đây đo vẽ bằng phương pháp thủ công nay bằng máy móc nên độ chính xác cao hơn; việc tranh chấp là do các hộ tự ý sử dụng không đúng diện tích ranh giới được giao.

[2.6] Trên diện tích đất tranh chấp có phần diện tích 7985,8 m² gia đình ông Nguyễn Văn T đã trồng cây keo hiện chưa đến kỳ thu hoạch. Qúa trình giải quyết, gia đình ông Q đồng ý trả giá trị cây keo cho gia đình ông T. Tòa sơ thẩm giao cho gia đình ông Q trông nom, quản lý diện tích 1.918,9m² có cây rừng tự nhiên và được sở hữu toàn bộ số cây keo trên diện tích 7985,8 m²; buộc gia đình ông Trần Văn Q trả trị giá cây keo trên diện tích 7985,8m² cho ông T là đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho các đương sự.

[2.7]Từ những căn cứ và phân tích đánh giá nêu trên thấy Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Q là có căn cứ theo Điều 73 Luạt đất đai 1993; Điều 97, Điều 99, Điều 100, Điều 166, Điều 170 Luật đất đai 2013;Điều 26 Luật đất đai năm 2024; khoản 2 Điều 164 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 72/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5- Bắc Ninh.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm ông Nguyễn Văn T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001494 ngày 10/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận ông Nguyễn Văn T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • -TAND Khu vực 5- Bắc Ninh
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu HS vụ án; VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Luyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2026/DS- PT ngày 10/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 17/2026/DS- PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất Vụ Q-T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger