Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10- AN GIANG

Bản án số:161 /2025/HNGĐ-ST

Ngày: 31-12-2025

V/v tranh chấp ly hôn, con chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phan Văn Dân

2/ Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Đào- là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10- An Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10- An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng- Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 10- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 244/2025/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 331/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 277/2025/QĐST-HNGĐ ngày 9 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị N, sinh năm: 1982 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

ĐT: 0766.845.xxx

Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 11/3/2024

HKTT: số nhà C, ấp A, xã M, tỉnh Đồng Tháp

-Bị đơn: Anh Trần Quốc T, sinh năm: 1976 (vắng mặt)

ĐT: 0837.684.xxx

Số căn cước công dân: ...... cấp ngày ......

HKTT: Tổ 7, ấp C, xã C, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 6/10/2025, nguyên đơn chị Huỳnh Thị N trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Quốc T tiến tới hôn nhân vào năm 2011, hôn nhân do tự nguyện, có tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn số 135/2012, quyển số 01/2012 ngày 25/9/2012 tại UBND xã M, huyện C, tỉnh An Giang. (nay là xã V, tỉnh An Giang)

Sau khi kết hôn, chúng tôi thuê trọ, làm công nhân sinh sống tại S (cũ) Đồng Tháp. Chúng tôi sống êm ấm được hơn 6 năm thì phát sinh mâu thuẩn, do bất đồng trong cuộc sống. Chúng tôi không tìm tiếng nói chung trong việc giải quyết xử lý chuyện nội bộ gia đình... Từ đó dẫn đến bất đồng trong tình cảm vợ chồng, không còn tôn trọng nhau, không tin tưởng nhau. Tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Trần Quốc T.

-Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị Bích N1, sinh năm: 2012. Hiện con đang sống với anh T. Sau ly hôn chị đồng ý để cháu N1 cho anh T nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

-Về tài sản và nợ chung: không có không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn anh Trần Quốc T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Trần Quốc T vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị N. Qua thông tin nơi cư trú thì anh Trần Quốc T hiện nay hộ khẩu thường trú vẫn Tổ G, ấp C, xã C, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 10- An Giang phát biểu quan điểm cho rằng. Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đề nghị. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Huỳnh Thị N, cho chị N ly hôn với anh T. Về con chung: Đề nghị giao cháu Trần Thị Bích N1, sinh năm: 2012 cho anh T nuôi dưỡng, chị N không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về nội dung vụ án:

[1.1]Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị N và anh Trần Quốc T tiến tới hôn nhân vào năm 2011, hôn nhân do tự nguyện, có tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn số 135/2012, quyển số 01/2012 ngày 25/9/2012 tại UBND xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo như phần trình bày của chị N yêu cầu ly hôn là do nguyên nhân tính tình không hòa hợp, nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Quốc T. Xét thấy với thời gian ngắn chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẩn nhưng cả hai không tìm ra biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng dẫn đến vợ chồng sống ly thân và chị N yêu cầu ly hôn. Trong thời gian ly thân hai bên không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy mời nhưng anh Trần Quốc T cũng không đến và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để có ý kiến về việc xin ly hôn của chị N. Hiện tại chị N xác định không còn tình cảm với anh T.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị N cũng giữ nguyên phần trình bày trong đơn là chị vẫn cương quyết xin ly hôn. Do đó, hôn nhân của chị Huỳnh Thị N và anh Trần Quốc T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị N là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[1.2]Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị Bích N1 sinh năm: 2012. Hiện con đang sống với anh T. Sau ly hôn chị đồng ý để cháu N1 cho anh T nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Trần Thị Bích N1 từ nhỏ và hiện tại đang sống với anh T, hiện tại cháu ổn định. Ngoài ra tại biên bản tự khia ngày 6/10/2025 cháu N1 có nguyện vọng sống với cha khi cha mẹ ly hôn. Do đó để ổn định cuộc sống của cháu Ngọc N2 nên để anh T được nuôi cháu N1 là phù hợp, chị N không cấp dưỡng nuôi con, Còn anh T thì không có ý kiến. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, dành cho anh T quyền khởi kiện cấp dưỡng nuôi con trong vụ kiện khác khi anh T có yêu cầu. Anh Trần Quốc T phải tạo điều kiện thuận lợi cho chị N được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc cháu, không ai được cản trở khi chị thực hiện quyền này.

[1.3]Về tài sản và nợ chung: Chị Huỳnh Thị N trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2]Về án phí: Do yêu cầu của chị Huỳnh Thị N được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 9, 53, 56,58 Luật Hôn nhân gia đình 2014, các điều 28, 35, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Huỳnh Thị N. Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị N và anh Trần Quốc T.

2.Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị Bích N1 sinh năm: 2012. Hiện con đang sống với anh T. Sau ly hôn chị Huỳnh Thị N được tiếp tục nuôi cháu Trần Thị Bích N1, Chị N không cấp dưỡng nuôi con. Còn anh T thì không có ý kiến. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, dành cho anh T quyền khởi kiện cấp dưỡng nuôi con trong vụ kiện khác khi anh T có yêu cầu. Anh Trần Quốc T phải tạo điều kiện thuận lợi cho chị N được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc cháu, không ai được cản trở khi chị thực hiện quyền này.

3.Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006270 ngày 27/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10- An Giang.

4.Về kháng cáo: chị Huỳnh Thị N và anh Trần Quốc T.được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

5.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - Những người tham gia tố tụng (để thi hành);
  • - TAND tỉnh;
  • -VKSND Khu vực 10;
  • -Phòng THA.DS Khu vực 10- An Giang;
  • -Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • -Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161 /2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- AN GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 161 /2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Nga. Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Nga và anh Trần Quốc Thanh. 2.Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị Bích Ngọc sinh năm: 2012. Hiện con đang sống với anh Thanh. Sau ly hôn chị Huỳnh Thị Nga được tiếp tục nuôi cháu Trần Thị Bích Ngọc, Chị Nga không cấp dưỡng nuôi con. Còn anh Thanh thì không có ý kiến. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, dành cho anh Thanh quyền khởi kiện cấp dưỡng nuôi con trong vụ kiện khác khi anh Thanh có yêu cầu. Anh Trần Quốc Thanh phải tạo điều kiện thuận lợi cho chị Nga được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc cháu, không ai được cản trở khi chị thực hiện quyền này. 3.Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Nga phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006270 ngày 27/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10- An Giang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger