Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày 31/12/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Quảng và bà Đinh Thị Nguyệt;

Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Đình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 7 - Phú Thọ tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Đình Núi - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST- HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với Bị cáo:

1. Bị cáo: Họ và tên: Đinh Thị C

(tên gọi khác: Không);

Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1971, tại xã C, tỉnh Phú Thọ;

Nơi ĐKNKTT: Khu L, xã C, tỉnh Phú Thọ;

Nơi ở hiện tại: Khu L, xã C, tỉnh Phú Thọ.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Mường;

Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Đinh Công T (đã chết) và bà: Đinh Thị T1, sinh năm 1940;

Chồng: Đinh Trọng S, sinh năm 1970;

Con: Có 02con (lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1996);

Tiền án/tiền sự: Không;

Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/9/2025 đến ngày 20/9/2025. Hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã C, tỉnh Phú Thọ (có mặt tại phiên tòa).

2. Bị cáo: Họ và tên: Đinh Văn T2

(tên gọi khác: Không);

Sinh ngày 06 tháng 10 năm 1964, tại xã C, tỉnh Phú Thọ;

Nơi ĐKNKTT: Khu A, xã C, tỉnh Phú Thọ;

Nơi ở hiện tại: Khu A, xã C, tỉnh Phú Thọ.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Mường;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Đinh Văn B (đã chết) và bà: Đinh Thị B1, sinh năm 1930;

Vợ: Đinh Thị H, sinh năm 1963;

Con: Có 03con (lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1990);

Tiền án/tiền sự: Không;

Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/9/2025 đến ngày 20/9/2025. Hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã C, tỉnh Phú Thọ (có mặt tại phiên tòa).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Đinh Công C1, sinh năm 1945 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu Đ, xã C, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Hồi 16 giờ 15 phút ngày 17/9/2025, Công an xã C phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P bắt quả tang tại nhà ở của Đinh Thị C đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Đinh Văn T2 với số tiền là 5.150.000 đồng, bán cho Đinh Công C1 là 28.000 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ các vật chứng gồm:

T3 từ Đinh Thị C 01 tờ giấy có dòng kẻ ngang ghi các số tự nhiên, 01 tờ giấy ô ly ghi các số tự nhiên, 01 tờ lịch mặt sau có ghi các số tự nhiên; 01 bút bi màu xanh trắng, 01 bút bi màu trắng đen; tiền Việt Nam Đồng: 7.150.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, đã qua sử dụng, IMEI số 356873119245371, gắn sim số 0333263865.

Thu giữ của Đinh Văn T2 01 tờ lịch mặt sau có ghi chữ và các số tự nhiên. Thu giữ của Đinh Công C1 01mảnh giấy có ghi các số tự nhiên. Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đinh Thị C và Đinh Văn T2 đồng thời thu giữ, tạm giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh P, Đinh Thị C, Đinh Công C1 và Đinh Văn T2 cùng khai nhận do cần tiền chi tiêu cá nhân nên C tự đứng ra bán số lô, số đề cho người chơi để cá cược thắng thua bằng tiền mặt nhằm thu lợi nhuận bất chính. Cụ thể:

Ghi cho Đinh Công C1: Đầu 8 x 10.000 đồng, số đề: 80 x 10.000 đồng, 81 x 3.000 đồng, 70 x 3.000 đồng, 08 x 2.000 đồng. C đồng ý và ghi các số đề trên ra một mảnh giấy (Cáp đề) và đưa cho Đinh Công C1. Tổng số tiền đánh bạc giữa C và C1 là 28.000 đồng nhưng C chỉ yêu cầu C1 trả cho C số tiền là 22.000 đồng, số tiền còn lại 6.000 đồng Chanh cho C1 để mua quà cho các cháu.

Ghi cho Đinh Văn T2: Dây 24 x 1.600.000 đồng; Dây 04 x 800.000 đồng; đầu 9 x 500.000 đồng; đuôi 9 x 500.000 đồng; 29 x 200.000 đồng; 92 x 200.000 đồng; 99-50.000 đồng; 97 x 100.000 đồng; 79 x 100.000 đồng; lô 99 x 50 điểm bằng 1.100.000 đồng. C đồng ý và ghi các số lô, số đề trên ra mặt sau của tờ lịch đưa cho T2, rồi nhận của T2 số tiền 5.150.000 đồng.

Ngoài hai người trên, trước đó Đinh Thị C còn bán nhiều số lô số đề cho 03 người lạ mặt C không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu với tổng số tiền là 4.580.000 đồng. Tổng số tiền Đinh Thị C đánh bạc ngày 17/9/2025 là 9.758.000 đồng. Trong đó, số tiền đánh bạc giữa C với T2 là 5.150.000 đồng tổng số tiền Chanh đánh bạc với C1 là 28.000 đồng. Số tiền đánh bạc với 03 người lạ mặt là 4.580.000 đồng.

Việc ghi số lô, đề được các bên quy ước như sau:

  • Đối với số đề: Người ghi đề lựa chọn các số bất kỳ từ 00 đến 99, kết quả sẽ so với hai số cuối giải đặc biệt của xổ số M mở thưởng ngày hôm đó;
  • Đối với số lô: Lựa chọn các số bất kỳ từ 00 đến 99, so theo hai số cuối của tất cả các giải với kết quả xổ số Miền Bắc ngày hôm đó.

Nếu người ghi số đề trúng thì tỷ lệ cá cược 01 ăn gấp 70 lần, nếu người ghi lô trúng thì tỷ lệ ăn 1 điểm lô 22.000VNĐ (hai mươi hai nghìn đồng) ăn 80.000VNĐ (tám mươi nghìn đồng). Nếu không trúng thì bị mất số tiền bỏ ra ban đầu.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các Bị cáo đều đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

2. Các vấn đề khác:

Ngày 20/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh P khởi tố vụ án, khởi tố Bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Đinh Thị C và Đinh Văn T2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15, dưới đây viết tắt là BLHS năm 2015).

Đối với hành vi Đinh Công C1, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan để xử phạt vi phạm hành chính đối theo quy định.

Đối với 03 người mua số lô, số đề của Chanh ngày 17/9/2025 là người lạ mặt với số tiền là 4.580.000 đồng, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Tổng số tiền Đinh Thị C dùng vào việc đánh bạc ngày 17/9/2025 là 9.758.000 đồng, khi bắt quả tang đã thu giữ 7.150.000 đồng. Số tiền còn lại 2.608.000 đồng C đã tiêu sài cá nhân hết. Ngày 07/11/2025 C3 đã tự nguyện giao nộp lại số tiền 2.608.000 đồng.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, đã qua sử dụng, IMEI số 356873119245371, gắn sim số 0333263865. Cơ quan điều tra đã kiểm tra tất cả các thư mục bên trong không phát hiện nội dung có liên quan tới việc đánh bạc.

Về điều kiện kinh tế, tài sản của các Bị cáo:

  • + Bị cáo Đinh Thị C sống cùng chồng con trên nhà xây cấp 4 diện tích khoảng 100m², đất đứng tên con trai. Trong nhà ngoài các vật dụng phục vụ sinh hoạt không còn tài sản khác có giá trị. Bị cáo lao động tự do tại địa phương với mức thu nhập khoảng 43.250.000 đồng/01 năm.
  • + Bị cáo Đinh Văn T2 sống cùng vợ và con trên nhà xây cấp 4 diện tích khoảng 50m² trên đất đứng tên Bị cáo. Trong nhà ngoài các vật dụng phục vụ sinh hoạt không còn tài sản khác có giá trị. Bị cáo lao động tự do tại địa phương với mức thu nhập khoảng 43.250.000 đồng/01 năm.

3. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Tại Bản cáo trạng số: 10/CT-VKSKV7 ngày 08/12/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân khu vực 7 – P đã truy tố Bị cáo: Đinh Thị C, Đinh Văn T2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 4 Điều 36 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Đinh Thị C;
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 4 Điều 36 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Đinh Văn T2
  • Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Bị cáo Đinh Thị C và Đinh Văn T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt Bị cáo: Xử phạt Bị cáo Đinh Thị C, Đinh Văn T2 từ 09 (chín) đến 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ các Bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm giữ (từ ngày 17/9/2025 đến ngày 20/9/2025 là: 03 ngày x 03 ngày = 09 ngày cải tạo không giam giữ). Thời hạn Cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án. Giao các Bị cáo cho UBND xã C, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình các Bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các Bị cáo tại thời gian thi hành bản án.

  • Miễn khấu trừ thu nhập đối với Bị cáo Đinh Thị C và Đinh Văn T2;
  • Buộc các Bị cáo phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng tại nơi cư trú trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong 01 tuần.
  • Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Đinh Thị C và Đinh Văn T2.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các Bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 47 của BLHS năm 2015; khoản 1 và điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (đã được sửa bổ bổ sung ngày 27/8/2025 – dưới đây viết tắt là BLTTHS năm 2015) .

  • Tịch thu số tiền, nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 9.758.000 đồng;
  • Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bút bi màu trắng đen; 01 (một) bút bi màu xanh trắng;
  • Tịch thu, lưu hồ sơ: 01 (một) tờ giấy có dòng kẻ ngang ghi các số tự nhiên; 01 (một) tờ giấy ô ly có ghi các số tự nhiên; 01 (một) tờ lịch ghi mặt sau có ghi các số tự nhiên; 01 (một) tờ lịch mặt sau có ghi các số tự nhiên; 01(một) mảnh giấy có ghi các số tự nhiên.
  • Trả lại cho Bị cáo Đinh Thị C 01 (một) chiếc điện thoại di động IPHONE 11 màu trắng đã cũ có IMEI 356873119245371, gắn sim số: 0333263865.

4. Bị cáo nói lời sau cùng:

Các Bị cáo ăn năn, hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét để được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh P và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên tòa hôm nay các Bị cáo: Đinh Thị C, Đinh Văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; thừa nhận Bản cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai của Bị cáo thống nhất, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ của vụ án.

Do đó, đủ căn cứ xác định: Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 17/9/2025, tại khu L, xã C, tỉnh Phú Thọ Công an xã C phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P bắt quả tang Đinh Thị C có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, đề cho Đinh Văn T2 và Đinh Công C1 với số tiền là: 5.178.000đ (bán cho T2: 5.150.000, bán cho Của: 28.000đ). Trước đó C còn bán số lô, đề cho ba người lạ mặt với số tiền 4.580.000đ. Như vậy, tổng số tiền Chanh đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự là 9.758.000 đồng, Đinh Văn T2 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với số tiền là 5.150.000đ.

Các Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc trái phép trong trạng thái tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng nhưng vì mục đích lợi nhuận vẫn cố ý thực hiện.

Từ các nhận định trên đã đủ cơ sở xác định hành vi của Bị cáo Đinh Thị C và Đinh Văn T2 thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS năm 2015;

Tại khoản 1 Điều 321 của BLHS năm 2015 quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

  • Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án tuy là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các Bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh của xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy cần được đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  • Về đồng phạm: Trong vụ án này Đinh Thị C và Đinh Văn T2 cùng thực hiện hành vi đánh bạc, Đinh Thị C trực tiếp đánh với Đinh Văn T2 dựa trên kết quả sổ số miền bắc mở thưởng hàng ngày, C tự đứng ra làm chủ, giữa các bên không có việc câu kết chặt chẽ, không phân công nhiệm vụ cụ thể, do đó, hành vi của các Bị cáo chỉ coi là đồng phạm giản đơn.
  • Về nhân thân: Các Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của BLHS năm 2015.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Các Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình 02 tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015. Ngoài ra, đối với Bị cáo Đinh Thị C có thời gian tham gia quân ngũ, có bố chồng là ông Đinh Văn L được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, mẹ chồng là bà Nguyễn Thị L1 có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến phục vụ kháng chiến. Do đó, Bị cáo C được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 của BLHS năm 2015.

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Các Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đều có nơi cư trú rõ ràng xét thấy không cần cách ly các Bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các Bị cáo cải tạo không giam giữ tại địa phương, giao các Bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các Bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ cũng đủ để các Bị cáo lấy đó làm bài học cho bản thân là phù hợp với Điều 36 của BLHS năm 2015.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của BLHS năm 2015 thì Bị cáo còn có thể bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Tuy nhiên, qua xác minh của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P thấy rằng, các Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, vì vậy, cần miễn khấu trừ thu nhập đối với các Bị cáo là phù hợp.

Tại khoản 4 Điều 36 của BLHS năm 2015 thì “Trường hợp Người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ”. Xét thấy, Đinh Thị C và Đinh Văn T2 là lao động tự do, không có việc làm ổn định vì vậy, cần buộc các Bị cáo phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng tại nơi cư trú theo tần suất là không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của BLHS năm 2015 thì Bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên qua xác minh về tài sản của cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P thì thấy các Bị cáo không có tài sản gì có giá trị lớn; thu nhập không ổn định, và nhà đất là tài sản duy nhất được sử dụng chung trong gia đình. Do đó, cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các Bị cáo là phù hợp.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 9.758.000 đồng là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước;

Đối với 01 (một) bút bi màu trắng đen; 01 (một) bút bi màu xanh trắng là vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy;

Đối với 01 (một) tờ giấy có dòng kẻ ngang ghi các số tự nhiên; 01 (một) tờ giấy ô ly có ghi các số tự nhiên; 01 (một) tờ lịch ghi mặt sau có ghi các số tự nhiên; 01 (một) tờ lịch mặt sau có ghi các số tự nhiên; 01(một) mảnh giấy có ghi các số tự nhiên là vật chứng chứng minh hành vi phạm tội của Bị cáo và tài liệu chứng cứ chứng minh tội phạm nên cần tịch thu, lưu hồ sơ.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động IPHONE 11 màu trắng đã cũ có IMEI 356873119245371, gắn sim số: 0333263865, đây là tài sản của Bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cân phải trả lại.

[5] Các vấn đề khác của vụ án:

Đối với hành vi Đinh Công C1 chưa kiện thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” nên ngày 13/11/2025, Công an xã C, tỉnh Phú Thọ đã ra Quyết định số: 15/QĐ – XPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với Đinh Công C1 là phù hợp.

Đối với 03 người mua số lô, số đề của Chanh ngày 17/9/2025 đều là những người lạ mặt Bị cáo C không nhớ được đặc điểm nhận dạng, ngoài lời khai của C không còn chứng cứ, tài liệu nào khác do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là phù hợp.

[6] Về án phí:

Bị cáo Đinh Thị C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Đinh Văn T2 là người cao tuổi, có đề nghị xin được miễn án phí, yêu cầu của Bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.

[7] Đề nghị của Kiểm sát viên:

Tại phiên tòa đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về quyền kháng cáo:

Các Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ kết tội:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 4 Điều 36 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Đinh Thị C;
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 4 Điều 36 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Đinh Văn T2.
  • Tuyên bố: Bị cáo Đinh Thị C và Đinh Văn T2 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt, biện pháp tư pháp:

Xử phạt Bị cáo Đinh Thị C và Bị cáo Đinh Văn T2, mỗi Bị cáo 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo T2 và Bị cáo C được khấu trừ 03 (ba) ngày tạm giữ (từ ngày 17/9/2025 đến ngày 20/9/2025) quy đổi thành 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án. Giao Bị cáo C, Bị cáo T2 cho UBND xã C, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình các Bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Bị cáo trong thời gian thi hành bản án.

  • Miễn khấu trừ thu nhập đối với Bị cáo Đinh Thị C và Đinh Văn T2.
  • Buộc Bị cáo Đinh Thị C và Đinh Văn T2 phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng tại nơi cư trú trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong 01 tuần.
  • Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các Bị cáo.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C2 đi khỏi nơi cư trú đối với Bị cáo C, T2 theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 32, 33/LCĐKNCT – TA ngày 10/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 47 của BLHS năm 2015; khoản 1 và điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS năm 2015.

  • Tịch thu số tiền, nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 9.758.000 đồng;
  • Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bút bi màu trắng đen; 01 (một) bút bi màu xanh trắng;
  • Tịch thu, lưu hồ sơ: 01 (một) tờ giấy có dòng kẻ ngang ghi các số tự nhiên; 01 (một) tờ giấy ô ly có ghi các số tự nhiên; 01 (một) tờ lịch ghi mặt sau có ghi các số tự nhiên; 01 (một) tờ lịch mặt sau có ghi các số tự nhiên; 01(một) mảnh giấy có ghi các số tự nhiên.
  • Trả lại cho Bị cáo Đinh Thị C 01 (một) chiếc điện thoại di động IPHONE 11 màu trắng đã cũ có IMEI 356873119245371, gắn sim số: 0333263865.

4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015; áp dụng điểm d, khoản 1, Điều 12, Điều 14, khoản 2, Điều 15 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc Bị cáo Đinh Thị C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm; Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo Đinh Văn T2.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, 333 BLTTHS năm 2015, Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 7 – Phú Thọ;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Cơ quan THA Dân sự tỉnh;
  • - Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Phú Thọ;
  • - UBND xã nơi b/c thường trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tân Khải Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HS - ST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger