| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG ------- Bản án số: 16/2026/HNGĐ-ST Ngày 06 tháng 01 năm 2026 V/v “Ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ----------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời
Bà Nguyễn Thị Kim Ngân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 352/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 352/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 157/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Phan Minh H, sinh ngày: 01/02/1972; Địa chỉ: Tổ G phường S, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)
- - Bị đơn: Bà Trịnh Thị Thanh N, sinh ngày: 28/12/1970; Địa chỉ: K A, phường A, Thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phan Minh H trình bày:
Về hôn nhân: Ông Phan Minh H và bà Trịnh Thị Thanh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng vào ngày 05/1/1994. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại tổ C, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã nhau. Mâu thuẫn được hai bên gia đình và con cái hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay ông Phan Minh H yêu cầu Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Trịnh Thị Thanh N.
Về con chung: Ông Phan Minh H xác định ông và bà Trịnh Thị Thanh N có 03 con chung là Phan Nữ Tú T, sinh ngày 01/9/1990, Phan Nữ Trà M, sinh ngày 27/5/1992 và Phan Hùng A, sinh ngày 09/10/1993. Các con chung hiện đã thành niên nên không đề cập đến vấn đề người nuôi dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Phan Minh H xác định ông và bà Trịnh Thị Thanh N không có tài sản chung và nợ chung.
- Bị đơn bà Trịnh Thị Thanh N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên bà vẫn vắng mặt, không có ý kiến.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đã không chấp hành các quy định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Minh H đối với bà Trịnh Thị Thanh N. Về hôn nhân: Cho ông Phan Minh H được ly hôn với bà Trịnh Thị Thanh N; Về con chung: Các con chung đã thành niên nên không đề cập đến vấn đề người nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Phan Minh H xác định không có tài sản chung và nợ chung, đối với bà Phan Thị Thanh N1 vắng mặt không có ý kiến về tài sản và nợ chung nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Ly hôn” là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn bà Trịnh Thanh N cư trú tại phường A, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3]. Bị đơn bà Trịnh Thị Thanh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông Phan Minh H và bà Trịnh Thị Thanh N xác lập trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Ông Phan Minh H xác định trong quá trình chung sống giữa vợ chồng ông bà có phát sinh mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Vợ chồng đã sống ly thân thời gian 5 năm, không còn quan tâm lẫn nhau. Đối với bà Trịnh Thị Thanh N vắng mặt, không có ý kiến gì.
Hội đồng xét xử thấy rằng giữa các bên đương sự có mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến việc các bên lựa chọn sống ly thân nhiều năm là có thật, việc bị đơn bà Trịnh Thị Thanh N không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa cho thấy bà không còn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, đời sống chung giữa hai người đã không còn tồn tại một thời gian dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của ông Phan Minh H phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông Phan Minh H được ly hôn với bà Trịnh Thị Thanh N.
[2.2]. Về con chung: Các con chung đã thành niên và phát triển bình thường nên Hội đồng xét xử không đề cập đến vấn đề người nuôi dưỡng.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Phan Minh H xác định ông và bà Trịnh Thị Thanh N không có tài sản chung và nợ chung. Đối với bà Trịnh Thị Thanh N vắng mặt không có ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, ông Phan Minh H phải chịu 300.000 đồng án phí tranh chấp hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
[5]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của ông Phan Minh H đối với bà Trịnh Thị Thanh N.
- Về hôn nhân: Ông Phan Minh H được ly hôn với bà Trịnh Thị Thanh N (Giấy chứng nhận kết hôn số 01, Quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phường P, quận S (Nay là Ủy ban nhân dân phường A), thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/01/1994 không còn giá trị pháp lý).
- Về con chung: Các con chung Phan Nữ Tú T, sinh ngày 01/9/1990, Phan Nữ Trà M, sinh ngày 27/5/1992 và Phan Hùng A, sinh ngày 09/10/1993 đã thành niên nên không đề cập đến vấn đề người nuôi dưỡng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Minh H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông Phan Minh H đã nộp theo biên lai thu số 0005267 ngày 11 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
- Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng; - Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng; - THADS Thành phố Đà Nẵng; - UBND phường An Hải, thành phố Đà Nẵng; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Hằng |
Bản án số 16/2026/HNGĐ-ST ngày 06/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng về ly hôn
- Số bản án: 16/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa ông H và bà N
