Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Ngọc Đức
  2. Ông Trương Văn Ánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Đang - là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long: không thuộc trường hợp tham gia phiên tòa.

Ngày 08 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 156/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025; về tranh chấp: “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2025/QĐXX-ST ngày 25 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phùng Lê Công K, sinh năm 1989. Địa chỉ: khóm T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long) (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm 1995. Nơi ĐKTT: thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là thôn D, xã K, tỉnh Quảng Ngãi). Nơi đăng ký tạm trú: khóm T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long). Nơi ở hiện nay: khu phố P, phường P, tỉnh Đồng Nai (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/10/2025 nguyên đơn ông Phùng Lê Công K trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Mỹ C qua quen biết tìm hiểu nhau, được sự chấp thuận của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương vào năm 2016; đăng ký kết hôn ngày 27/12/2016 tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Quảng Ngãi. Có 02 con chung: Phùng Nguyễn Gia H, sinh ngày 14/02/2017 và Phùng Nguyễn Gia H1, sinh ngày 22/5/2023, hiện hai con sống với bà C. Trong thời gian chung sống, vợ chồng không tạo lập tài sản chung; không thiếu nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ. Những năm đầu, gia đình ấm êm, vợ chồng yêu thương, chia sẻ. Theo thời gian, sự khác biệt về suy nghĩ và lối sống dẫn đến vợ chồng dần xa cách, mâu thuẫn xảy ra ngày một nhiều hơn; dù đã cố gắng vun vén để giữ gìn hạnh phúc, nhưng không còn tìm được tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không đạt được mục đích ban đầu. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn bà Nguyễn Thị Mỹ C; Về con chung: ông yêu cầu giải quyết cho bà C được quyền nuôi hai con chung Phùng Nguyễn Gia H, sinh ngày 14/02/2017 và Phùng Nguyễn Gia H1, sinh ngày 22/5/2023, ông không cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra ông không còn yêu cầu nào khác.

- Tại bản tự khai ngày 10/12/2025 và ngày 30/12/2025 bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ C trình bày: Bà đồng ý ý Tòa án khu vực 3 - Vĩnh Long giải quyết vụ kiện ly hôn của ông Phùng Lê Công K và bà là Nguyễn Thị Mỹ C. Bà đồng ý ly hôn ông K; bà yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con chung Phùng Nguyễn Gia H, sinh ngày 14/02/2017 và Phùng Nguyễn Gia H1, sinh ngày 22/5/2023, bà không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung: không có. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt bà.

- Tại bản tự khai ngày ngày 31/10/2025 cháu Phùng Nguyễn Gia H trình bày: Cha mẹ ly hôn, nguyện vọng cháu tiếp tục ở với mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Ông Phùng Lê Công K có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị Mỹ C; ông K có nơi cư trú thuộc xã T, bà C yêu cầu Tòa án khu vực 3 - Vĩnh Long là Tòa án nơi cư trú của ông K giải quyết, nên tranh chấp về quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025 và điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.

[1.2] Nguyên đơn ông Phùng Lê Công K và bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ C yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phùng Lê Công K và bà Nguyễn Thị Mỹ C tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của ông K là có cơ sở. Bởi lẽ quá trình chung sống ông bà bất đồng quan điểm với nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn hạnh phúc. Ông bà từ lâu đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng phải thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông K xác định không còn tình cảm vợ chồng với bà C, ông yêu cầu được ly hôn. Bà C đồng ý ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông K được ly hôn bà C là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Ông Phùng Lê Công K yêu cầu giải quyết cho bà Nguyễn Thị Mỹ C được quyền nuôi hai con chung Phùng Nguyễn Gia H, sinh ngày 14/02/2017 và Phùng Nguyễn Gia H1, sinh ngày 22/5/2023.

Xét thấy, từ khi ông K và bà C không còn sống chung, bà C là người trực tiếp nuôi hai con chung, điều kiện kinh tế của bà C ổn định, đảm bảo việc nuôi nuôi con, đảm bảo các điều kiện cho sự phát triển về thể chất và các điều kiện khác cho sự phát triển tốt về tinh thần của các con. Bà C yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con chung; phù hợp với nguyện vọng của cháu Gia H sống với mẹ; riêng đối với cháu Gia H1 chưa đủ 36 tháng tuổi cần sự chăm sóc trực tiếp của mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giao hai con chung cho bà C trực tiếp nuôi là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo quy định của pháp luật thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, tuy nhiên bà C không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con; Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[2.3] Về chia tài sản (tài sản chung, nợ chung): Ông Phùng Lê Công K và bà Nguyễn Thị Mỹ C không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Ông Phùng Lê Công K phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025 và điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phùng Lê Công K.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Phùng Lê Công K và bà Nguyễn Thị Mỹ C.

2. Về con chung:

Giao con chung Phùng Nguyễn Gia H, sinh ngày 14/02/2017 và Phùng Nguyễn Gia H1, sinh ngày 22/5/2023 cho bà Nguyễn Thị Mỹ C trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà Nguyễn Thị Mỹ C không yêu cầu ông Phùng Lê Công K cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Ông Phùng Lê Công K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; đồng thời người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về chia tài sản (tài sản chung, nợ chung): Ông Phùng Lê Công K và bà Nguyễn Thị Mỹ C không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Ông Phùng Lê Công K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do ông K nộp theo biên lai thu số 0008080 ngày 31/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Vậy ông K đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:
- TAND T. Vĩnh Long;
- VKSND KV 3 - Vĩnh Long;
- Phòng THADS KV 3 - Vĩnh Long;
- UBND xã Khánh Cường, tỉnh Quảng Ngãi;
- Các đương sự;
- Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phan Kim Ngân

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THẨM PHÁN
Trần Ngọc Đức Trương Văn Ánh Phan Kim Ngân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2025/TLST-HNGĐ ngày 08/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 156/2025/TLST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phùng Lê Công Khanh. 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Phùng Lê Công Khanh và bà Nguyễn Thị Mỹ Châu. 2. Về con chung: Giao con chung Phùng Nguyễn Gia Huy, sinh ngày 14/02/2017 và Phùng Nguyễn Gia Hân, sinh ngày 22/5/2023 cho bà Nguyễn Thị Mỹ Châu trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: bà Nguyễn Thị Mỹ Châu không yêu cầu ông Phùng Lê Công Khanh cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Ông Phùng Lê Công Khanh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; đồng thời người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. 3. Về chia tài sản (tài sản chung, nợ chung): Ông Phùng Lê Công Khanh và bà Nguyễn Thị Mỹ Châu không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. 4. Về án phí: Ông Phùng Lê Công Khanh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do ông Khanh nộp theo biên lai thu số 0008080 ngày 31/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Vậy ông Khanh đã nộp đủ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger