|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 155/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30 – 12 – 2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thanh Nhanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lâm Kim Mến.
- Ông Ngô Văn Cơ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Gia An, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 210/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 340/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 244/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp N, xã T, thành phố Cần Thơ.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp N, xã T, thành phố Cần Thơ.
Các đương sự đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị M trình bày:
Bà Trần Thị M và ông Nguyễn Chí T quen biết nhau vào đầu năm 2009; ông, bà tự nguyện thương nhau và được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương; sau đó ông, bà đã đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hoà Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến đầu năm 2012 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không còn tiếng nói chung, ai cũng có cuộc sống riêng tư; ông, bà đã ly thân từ năm 2012 cho đến nay, tình cảm không thể hàn gắn được với nhau, nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà M với ông Nguyễn Chí T có 01 con chung tên Nguyễn Đức K (giới tính Nam), sinh ngày 26/9/2010, đang sống chung với bà M. Khi ly hôn, bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Đối với bị đơn: Ông Nguyễn Chí T đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia tố tụng, lấy lời khai nhưng ông T đều vắng mặt không lý do, cũng không nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ và văn bản ghi ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị M.
3. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn ông Nguyễn Chí T chưa chấp hành và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
Về giải quyết vụ án: Có cơ sở chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn, do bị đơn có nơi cư trú tại ấp N, xã T, thành phố Cần Thơ nên Toà án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[1.3] Nguyên đơn là bà M có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn ông T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ hai lần, nhưng đều vắng mặt không lý do và không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của các đương sự không gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Trích lục kết hôn số: 83/TLKH-BS ngày 22/4/2025 của Uỷ ban nhân dân xã Hoà Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng thì bà Trần Thị M với ông Nguyễn Chí T đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền vào ngày 21/5/2012 (số 39). Tòa án đã thông báo và triệu tập các đương sự tham gia hòa giải, nhưng ông T đều vắng mặt; bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, vì cho rằng ông, bà không còn tiếng nói chung, không còn chung sống với nhau nữa, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ai cũng có cuộc sống riêng tư; ông, bà đã ly thân từ năm 2012 cho đến nay, tình cảm không thể hàn gắn được với nhau. Do đó, có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa bà M với ông T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[2.2] Về con chung: Bà M với ông T có 01 con chung tên Nguyễn Đức K; theo Giấy khai sinh số 96 đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã Hoà Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 21/5/2012, thì cháu K họ tên là: Nguyễn Đức K, sinh ngày 26/9/2010. Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Xét thấy, cháu K đang chung sống với bà M; theo biên bản ngày 24/11/2025 của Toà án ghi ý kiến của cháu Nguyễn Đức K, sinh ngày 26/9/2010 thì cháu K có nguyện vọng được sống chung với mẹ là bà Trần Thị M; nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho bà M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; cũng nhằm ổn định cuộc sống cho con chung sau khi cha mẹ ly hôn, nên cần giao cháu K cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Ông T không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với bà M; bà M cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của khoản 1 và 2 Điều 81; khoản 1 và 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; ông T cũng không có ý kiến về vấn đề này. Vì vậy, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà M là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 và 2 Điều 81, khoản 1 và 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị M.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Trần Thị M được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Chí T.
1.2. Về con chung:
- Giao con chung tên: Nguyễn Đức K, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2010 cho bà Trần Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu K tròn 18 (mười tám) tuổi.
- Ông Nguyễn Chí T có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con chung là Nguyễn Đức K, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2010 được sống chung với bà Trần Thị M.
- Ông Nguyễn Chí T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở; bà Trần Thị M cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Nguyễn Chí T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Ông Nguyễn Chí T không phải cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008326 ngày 03 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ; như vậy, bà M đã nộp xong án phí sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Toà án tống đạt bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Cần Thơ; - Uỷ ban nhân dân xã Hoà Tú 1, thành phố Cần Thơ; - TAND thành phố Cần Thơ (Phòng Giám đốc, Kiểm tra, Thanh tra và Thi hành án); - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Cao Thanh Nhanh |
Bản án số 155/2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ, Thành phố Cần Thơ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 155/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ, Thành phố Cần Thơ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số: 155/2025/HNGĐ-ST ngày: 30 – 12 – 2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Muội, địa chỉ: Ấp Hoà Nhạn, xã Hoà Tú, thành phố Cần Thơ; bị đơn: Ông Nguyễn Chí Tài, địa chỉ: Ấp Hoà Nhạn, xã Hoà Tú, thành phố Cần Thơ.
