|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
|
Bản án số: 154/2025/DS-PT Ngày 24 tháng 12 năm 2025. V/v: “Tranh chấp đòi đất cho mượn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Thành.
Các Thẩm phán: Ông Đào Anh Đức và ông Lê Ngọc Lâm.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Hằng Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 143/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025 về “Tranh chấp đòi đất cho mượn”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 144/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
-
* Nguyên đơn: ông Lê Duy L, sinh năm 1937.
Địa chỉ: P nhà C khu tập thể M, phường T, TP Hà Nội (có mặt);
- Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Lê Duy H (SN 1963);
Địa chỉ: Khu tập thể C, xã V, TP Hà Nội (có mặt);
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: bà Phạm Hoàng V - Luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư T1. Địa chỉ: Số A, ngõ A phố T, phường Đ, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
-
* Bị đơn: Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Thanh Hóa;
Địa chỉ: Thôn M, xã H, tỉnh Thanh Hóa.
- Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Văn C - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
-
- Người đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Văn H1 - Trưởng phòng kinh tế Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Thanh Hóa (có mặt)
-
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân tỉnh T.
Địa chỉ: Số C, phường H, tỉnh Thanh Hóa;
- Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Hoài A - Chủ tịch (vắng mặt).
-
- Người kháng cáo: ông Lê Duy L là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Duy L (sau đây gọi tắt là ông L) trình bày:
Cụ Lê Duy K (sau đây gọi tắt là cụ K), chết ngày 14/2/1946 và cụ Lê Thị H2 (sau đây gọi tắt là cụ H2), chết ngày 14/01/1962 là ông, bà nội của ông L. Cụ K có để lại cho con trai trưởng là ông Lê Duy H3 (sau đây gọi tắt là ông H3, là bố của ông L) nhà thờ và thửa đất là 2 sào, 2 thước, 6 tấc tương đương diện tích 1.300m² tại thôn P, tổ N, P (nay là thôn P, xã H, tỉnh Thanh Hóa) theo Bản đồ địa chính do Đại Nam Trung kỳ Chánh phủ cấp ngày 22/7/1943.
Theo chính sách cải cách ruộng đất, thì ông H3 bị quy là thành phần địa chủ; sau đó, sửa sai là thành phần trung nông và được trả lại nhà đất, có xác nhận của ông Lê Bá B là Bí thư Đảng ủy xã H vào năm 1963 (tại lý lịch của ông L), có xác nhận của ông Lê Xuân Q là Bí thư Đảng ủy xã H xác nhận ngày 24/4/1987 tại lý lịch của ông L.
Gia đình ông L đi bộ đội vào thanh niên xung phong nên vắng nhà; năm 1970, gia đình ông L cho Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã H mượn nhà đất làm nhà trẻ và mẫu giáo, gia đình ông L có ký vào giấy giới thiệu của xã để xã giữ làm căn cứ sử dụng đất (gia đình ông L không giữ giấy tờ liên quan đến mượn đất). Khoảng 9 đến 10 năm (sau năm 1970), xã phá dỡ nhà của gia đình ông L để xây dựng nhà trẻ và mẫu giáo; xây dựng tượng đài liệt sĩ.
Thửa đất của gia đình ông L tương ứng với:
- - Tờ bản đồ 299/TTg xã H năm 1985, thửa đất số 507, diện tích 1.285m² đất KTCB.
- - Tờ bản đồ số 05 do xã H lập năm 1995, gồm các thửa đất số: 548, 550, 551, 552 và 553, diện tích là 1.242m² đất KTCB.
Sau đó, xã phân (một phần đất của gia đình ông L) thành 03 lô bán cho 03 hộ sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSD đất) là: Ông Lê Văn Đ, ông Lê Văn T và ông Lê Bá C1 (ông L không tranh chấp với 03 hộ này). Phần đất còn lại, xã sử dụng là chợ G1 và được cấp GCNQSD đất cho UBND xã H diện tích 472m² đất.
Đất của gia đình ông L không thuộc các trường hợp: Trưng thu, trưng mua, vắng chủ, hiến tặng cho Nhà nước. Đất của gia đình ông L cho Nhà nước mượn sử dụng nhưng UBND xã H không trả đất cho gia đình ông L. Ông L khiếu nại đến các cấp UBND để đòi lại đất nhưng không được chấp nhận. Ông L khởi kiện vụ án hành chính; sau đó, ông L rút đơn khởi kiện vụ án hành chính. Ông L khởi kiện vụ án dân sự về yêu cầu UBND xã H phải trả đất cho ông L.
Theo văn bản trình bày ý kiến và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn UBND xã H, tỉnh Thanh Hoá do người đại diện trình bày:
Từ năm 1956, gia đình ông L đi khỏi địa phương. Thửa đất tranh chấp được chính quyền quản lý và giao cho Hợp tác xã nông nghiệp (viết tắt là HTX N) sử dụng. Hồ hồ sơ địa chính thể hiện:
- - Theo Bản đồ địa chính 299/TTg năm 1985 là thửa đất số 507, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.280,0m² đất KTCB chủ sử dụng: HTX NN.
- - Tương ứng Bản đồ năm 1995, gồm:
- + Thửa đất 548, tờ bản đồ số 05, diện tích 160,0m² đất XDCB, chủ sử dụng: Khu G.
- + Thửa 550, tờ bản đồ số 05, diện tích 723m² đất XDCB, chủ sử dụng: Nhà Mẫu giáo.
- + Thửa 551, tờ bản đồ số 05, diện tích 312,0m² đất XDCB, chủ sử dụng: Khu Tượng đài.
- + Thửa 552, tờ bản đồ số 05, diện tích 16,0m² đất XDCB, chủ sử dụng: Quán giao thầu.
- - Hiện trạng sử dụng thửa đất:
- + Thửa đất 550, tờ bản đồ số 05, hiện đã được quy hoạch đất khu dân cư theo MBQH số 291 ngày 04/6/2001 của UBND huyện H và đã cấp GCNQSD đất cho: Ông Lê Bá C1 diện tích 200,0m²(theo GCNQSDĐ số phát hành U657914 ngày 26/01/2002); ông Lê Văn T diện tích 100,0m² (theo GCNQSDĐ số phát hành W306909 ngày 27/01/2003) và ông Lê Văn Đ diện tích 100,0m² (theo GCNQSDĐ số phát hành W306910 ngày 27/01/2003).
- + Phần đất còn lại: Một phần quy hoạch làm chợ dân sinh (chợ G1) và cấp GCNQSD cho UBND xã H, diện tích 472,0m² (theo GCNQSDĐ số phát hành BN796112 ngày 08/5/2013); một phần sử dụng làm ngõ đi và lưu thông chợ.
Nay UBND xã H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông L.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, UBND tỉnh T có văn bản trình bày: Thống nhất ý kiến trình bày của UBND xã H. Năm 2005, ông L có khiếu nại về thửa đất này nhưng các cấp UBND không chấp nhận khiếu nại của ông L theo Quyết định số 1231/QĐ-UB ngày 29/5/2014 của Chủ tịch UBND huyện H và Quyết định số 3586/QĐ-UBND ngày 27/10/2014 của UBND tỉnh T. Nay UBND tỉnh T không đồng ý khởi kiện của ông L.
* Kết quả thẩm định, định giá: Hiện trạng khu đất tranh chấp là toàn bộ chợ G1 gồm các thửa 548, 551, 552, 553 và 01 phần thửa 550 tờ bản đồ 5 bản đồ địa chính 1995, tổng diện tích 676,5 m²; tài sản trên đất gồm 01 lán chợ mái tôn diện tích 190 m², 01 làn chợ mái fibro diện tích 168,1 m², 02 bán bình tôn diện tích 52,5 m² và 154,6 m²; 01 khu vệ sinh diện tích 24,5 m², sân gạch bê tông. Không thẩm định giá đất vì hiện tại đất đang sử dụng vào mục đích chợ (đất công ích) và hiện đang do UBND xã quản lý nên không được đưa vào để định giá. Giá trị tài sản trên đất: 77.076.000đ.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 27/2025/DSST ngày 27/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Thanh Hóa tuyên xử:
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L về việc đòi quyền sử dụng đất hiện đang được sử dụng làm chợ G1 là một phần diện tích thửa đất số 507, tờ bản đồ số 02, Bản đồ 299/TTg xã H xác lập năm 1985; tương ứng bản đồ địa chính xã H xác lập năm 1995, thuộc các thửa đất số: 548, 551, 552, 553 và một phẩn thửa đất số 550 tờ bản đồ số 05.
- - Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy GCNQSD đất số BN796121 do UBND tỉnh T cấp ngày 08/5/2013 cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (nay là UBND xã H, tỉnh Thanh Hóa) đối với thửa đất số 548 và thửa đất số 551, tờ bản đồ số 5, bản đồ địa chính xã H vẽ năm 1996 (thửa mới được tạo thành là thửa 802). Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Ngày 03/10/2025, ông L kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: ông Lâm G nguyên yêu cầu khởi kiện; giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện U: Vắng mặt. Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt. Đại diện UBND xã H, tỉnh Thanh Hoá có mặt vẫn giữ nguyên quan điểm không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông L.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm; đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử. Những người tham gia tố tụng: Các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 27/2025/DSST ngày 27/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hình thức: Ông L kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn pháp luật quy định; ông L thuộc trường hợp người cao tuổi và được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự
[2] Về nội dung:
[2.1] Về yêu cầu đòi lại đất: Ông L đòi quyền sử dụng đất và trình bày về nguồn gốc thửa đất trước năm 1946 thuộc quyền quản lý của cụ K (ông nội của ông L). Tuy nhiên, ông giao nộp tờ giấy phô tô “có ngôn ngữ tượng hình” nhưng không có bảng dịch sang ngôn ngữ hiện nay. Do đó, cấp sơ thẩm xác định tờ giấy phô tô “có ngôn ngữ tượng hình” không phải là chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đồng thời, ông L không cung cấp văn bản về việc ông H3 (bố ông L) là người được kế thừa quyền sử dụng đất của cụ K; không cung cấp tài liệu, chứng cứ về việc ông H3 được cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai cấp quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông H3 theo quy định của pháp luật về đất đai qua các thời kỳ; không trực tiếp quản lý và sử dụng đất; không thực hiện kê khai đất đai và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.
Việc ông L trình bày cho UBND xã H mượn đất, tuy nhiên ông L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ về việc cho mượn đất.
Các xác nhận trong lý lịch Đảng viên của ông L năm 1963 và năm 1987 chỉ ghi nhận về nguồn gốc thành phần gia đình và lịch sử đất đai, không phải là văn bản pháp lý xác lập quan hệ dân sự về việc cho mượn đất giữa gia đình ông L với UBND xã H.
Hơn nữa, pháp luật về đất đai qua các thời kỳ và Luật Đất đai năm 2024 quy định: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền N Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L là phù hợp với quy định tại Điều 184 của Bộ luật Dân sự và khoản 1, khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Về yêu cầu hủy GCNQSDĐ: năm 2005 ông Lê Duy L có đơn khiếu nại đến UBND xã H đòi lại nhà đất cho mượn; từ 2005 đến 2018 ông L liên tục có đơn khiếu nại và được giải quyết; ngày 08/5/2013 UBND tỉnh cấp GCNQSDĐ số BN 796121 cho UBND xã thửa đất 548, 551 tờ bản đồ 5 năm 1996 (thửa mới tạo thành là 802). Giấy chứng nhận được cấp khi đang có tranh chấp, khiếu nại là chưa đúng trình tự thủ tục cấp giấy nhưng xét yêu cầu khởi kiện của ông L không được chấp nhận, quyền sử dụng đất vẫn thuộc UBND xã, việc hủy giấy để cấp lại khi không có sự thay đổi về chủ sử dụng đất là không cần thiết nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy giấy CNQSDĐ.
[3] Ông L kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ và hợp pháp. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông L như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[4] Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Về chi phí tố tung: Ông Lê Duy L phải chịu chi phí xem xét, thẩm định, định giá tài sản là 14.400.000đ.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Duy L.
- Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số: 27/2025/DSST ngày 27 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Thanh Hóa:
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Duy L về yêu cầu đòi quyền sử dụng đất hiện đang được sử dụng làm chợ G1 là một phần diện tích thửa đất số 507, tờ bản đồ số 02, Bản đồ 299/TTg xã H xác lập năm 1985; tương ứng bản đồ địa chính xã H xác lập năm 1995, thuộc các thửa đất số: 548, 551, 552, 553 và một phẩn thửa đất số 550 tờ bản đồ số 05.
- - Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Duy L về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN796121 do Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp ngày 08/5/2013 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (nay là UBND xã H, tỉnh Thanh Hóa) đối với thửa đất số 548 và thửa đất số 551, tờ bản đồ số 5, bản đồ địa chính xã H vẽ năm 1996 (thửa mới được tạo thành là thửa 802).
- Về chi phí tố tung: Ông Lê Duy L phải chịu chi phí xem xét, thẩm định, định giá tài sản là 14.400.000đ (ông Lê Duy L đã nộp đủ).
- Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Lê Duy L được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm (thuộc trường hợp người cao tuổi).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Quốc Thành |
Bản án số 154/2025/DS-PT ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp đòi đất cho mượn
- Số bản án: 154/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi đất cho mượn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi đất cho mượn
