TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – THANH HÓA
Bản án số: 150/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 26/12/2025
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lường Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Lý Bằng
Bà Đoàn Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Mỹ Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông La Văn Trình - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2025/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025 về việc: “ Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXX-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QÐST – HNGĐ ngày 10/9/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị C, sinh năm 1968
- Bị đơn: Ông Ngọ Doãn D, sinh năm 1974
Cùng địa chỉ: Thôn X, xã T, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 02 tháng 6 năm 2025, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bà Bùi Thị C trình bày:
Về hôn nhân:
Bà và ông Ngọ Doãn D kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn do UBND xã B, huyện P, tỉnh Sông Bé (nay là xã P, tỉnh Đồng Nai) cấp ngày 05/8/1994. Thời điểm đăng ký kết hôn do vợ chồng chưa có chứng minh nhân dân, mặt khác do bà nhiều tuổi hơn ông D nên ông bà có khai ngày tháng năm sinh không khớp với giấy tờ tùy thân khác. Sau khi kết hôn vợ chồng bà
sống ở thôn B, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước một thời gian và năm 2002 chuyển về sinh sống tại thôn X, xã T được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông D chơi bời cờ bạc, không lo làm ăn dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn nên giữa vợ chồng xảy ra cãi vã, xung đột. Năm 2012, ông D bỏ vào trong miền N làm ăn. Từ đó vợ chồng sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay bà C xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông Ngọ Doãn D.
Về con chung:
Bà Bùi Thị C và ông Ngọ Doãn D có 02 con chung là: Ngọ Doãn D1, sinh ngày 03/12/1995 và Ngọ Doãn S, sinh ngày 18/6/1999. Hiện các con chung của ông bà đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và công nợ:
Bà Bùi Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 11 tháng 7 năm 2025 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Ngọ Doãn D có quan điểm trình bày:
Về hôn nhân:
ông và bà Bùi Thị C đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Vì vậy, trích lục kết hôn (bản sao) do bà C cung cấp có ngày tháng năm sinh của ông trong trích lục kết hôn bản sao không đúng nên ông không chấp nhận việc ông và bà C đã đi đăng ký kết hôn. Thời điểm đó ông và bà C đang ở thôn B, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước. Đến năm 2002, ông bà chuyển ra sống tại thôn X, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Năm 2009 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do thời điểm đó ông ốm đau nhưng bà C không quan tâm chăm sóc nên ông suy nghĩ tiêu cực và bỏ vào miền N làm ăn. Từ đó ông và bà C không còn chung sống với nhau và không quan tâm đến nhau. Nay ông đề nghị Tòa án công nhận giữa ông và bà C không phải là vợ chồng.
Về con chung:
Ông Ngọ Doãn D xác định ông và bà C có 02 con chung là Ngọ Doãn D1, sinh ngày 03/12/1995 và Ngọ Doãn S, sinh ngày 18/6/1999. Hiện các con đã trưởng thành nên ở với ai là tùy các con, tuy nhiên, ông D khai rằng có một thửa đất do bố mẹ để lại để thờ cúng nhưng ông đã cho cháu N Doãn Sỹ 150m² để sau này cháu S có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên và có trách nhiệm với ông khi tuổi già.
Về tài sản:
Quá trình ông và bà C chung sống có tạo lập được khối tài sản chung gồm: 01 cửa hàng tạp hóa làm trên của đất bố mẹ ông để lại, bà C đã bán hết và mua một mảnh đất ở B để cho con làm nhà ở, hiện đất đang đứng tên ai ông không rõ nhưng ông không có tài liệu chứng cứ gì để cung cấp cho Tòa án. Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết chia khối tài sản trên theo quy định của pháp luật.
Về công nợ :
Ông Ngọ Doãn D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Qua xác minh tình trạng hôn nhân và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, ông Hoàng Trọng N1, trưởng thôn X, xã T cho biết: Ông Ngọ Doãn D có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại thôn X, xã T, tỉnh Thanh Hóa . Ông Ngọ Doãn D và bà Bùi Thị C đăng ký kết hôn ở đâu thì chính quyền địa phương không biết. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn hay không và nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào chính quyền địa phương không nắm rõ, hiện tại ông D và bà C đã sống ly thân. Ông D đang chung sống với người phụ nữ khác còn bà C đang sống với con ở B.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đầy đủ và đúng quy định của pháp luật.
Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về hôn nhân:
Chấp nhận cho bà Bùi Thị C được ly hôn với ông Ngọ Doãn D.
Về con chung:
Bà Bùi Thị C và ông Ngọ Doãn D có 02 con chung là Ngọ Doãn D1, sinh ngày 03/12/1995 và Ngọ Doãn S, sinh ngày: 18/6/1999.
Do các con đã trưởng thành, bà Bùi Thị C và ông Ngọ Doãn D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Về tài sản chung:
Không đề nghị nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bà Bùi Thị C phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định.
[1]. Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự về “ Tranh chấp về ly hôn”.
Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn ông Ngọ Doãn D cư trú tại thôn X, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nay là xã T, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa ngày 10/9/2025 ông Ngọ Doãn D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, ông Ngọc Doãn D2 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Ngọ Doãn D.
[3]. Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân:
Bà Bùi Thị C trình bày bà và ông Ngọ Doãn D kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và cưới có đăng ký kết hôn do UBND xã B, huyện P, tỉnh Sông Bé (nay là xã P, tỉnh Đồng Nai) cấp ngày 05/8/1994. Thời điểm đăng ký kết hôn do vợ chồng chưa có chứng minh nhân dân. Mặt khác do bà nhiều tuổi hơn ông D nên ông bà có khai ngày tháng năm sinh không khớp với giấy tờ tùy thân khác.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Ngọ Doãn D cho rằng tháng năm sinh của ông trong giấy đăng ký kết hôn không đúng. Vì vậy ông và bà Bùi Thị C chỉ chung sống với nhau như vợ chồng chứ không đăng ký kết hôn. Tuy nhiên ông D cũng thừa nhận ông và bà Bùi Thị C đã có thời gian chung sống với nhau tại thôn B, xã L (xã B cũ), huyện P, tỉnh Bình Phước khớp với thời gian đăng ký kết hôn. Tại Công văn số 419/UBND – NC ngày 08/9/2025 của Ủy ban nhân dân xã P cung cấp thông tin: Qua kiểm tra sổ bộ đăng ký kết hôn năm 1994 tại số 56 ngày 05/8/1994 thể hiện bà Bùi Thị C, sinh ngày 20/8/1969, nơi thường trú tại thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Sông Bé, chứng minh nhân dân số 171262794 và ông Ngọ Doãn D, sinh ngày 24/4/1968, nơi thường trú tại thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Sông Bé. Trên sổ thể hiện đầy đủ chữ ký của hai vợ chồng. Mặt khác quá trình chung sống ông D và bà C căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn để làm các thủ tục đăng ký khai sinh cho con và cấp sổ hộ khẩu gia đình. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở để khẳng định ông Ngọ Doãn D và bà Bùi Thị C thực tế có đăng ký kết hôn và sự sai lệch ngày tháng năm sinh trong giấy chứng nhận kết hôn trước kia và căn cước công dân hiện tại là do sai sót của người đi đăng ký kết hôn trong quá trình làm thủ tục kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị C và ông Ngọ Doãn D là hợp pháp.
Quá trình chung sống bà C và ông D đều thừa nhận có xảy ra mâu thuẫn và vợ chồng ông bà đã sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay, không còn quan tâm đến
nhau. Xét thấy hôn nhân giữa bà Bùi Thị C và ông Ngọ Doãn D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà Bùi Thị C được ly hôn với ông N Doãn Dục là phù hợp với quy định tại Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4]. Về con chung: Bà Bùi Thị C và ông Ngọ Doãn D có 02 con chung là Ngọ Doãn D1, sinh ngày 03/12/1995 và Ngọ Doãn S, sinh ngày 18/6/1999.
Anh Ngọ Doãn D1 và Ngọ D đều đã trưởng thành nên bà Bùi Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về tài sản chung: Bà Bùi Thị C không yêu cầu Tòa giải quyết.
Ông Ngọ Doãn D khai nại vợ chồng có một số tài sản chung và yêu cầu Tòa án chia đôi khối tài sản trên. Để có cơ sở cho việc giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu ông trình bày cụ thể thông tin về tài sản chung của ông và bà C đồng thời cung cấp tài liệu chứng cứ có liên quan nhưng hết thời hạn theo yêu cầu ông D không có ý kiến gì và cũng không cung cấp cho Tòa án nên được coi là từ bỏ quyền yêu cầu. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem và giải quyết trong vụ án và giành quyền khởi kiện cho ông bằng vụ án khác nếu có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.
[6]. Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Buộc nguyên đơn phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 235; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị C
Về hôn nhân:
Bà Bùi Thị C được ly hôn ông Ngọ Doãn D;
Về án phí:
Buộc bà Bùi Thị C phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà C đã nộp theo biên lai số: 0008023 ngày 17/6/2025 tại chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hậu Lộc. Bà Bùi Thị C đã nộp đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo:
Bà C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Thanh Hoá;
- VKSND khu vực 5 - Thanh Hóa;
- Đương sự;
- THADS tỉnh Thanh Hóa;
- UBND xã Phú Riềng, tỉnh Đồng Nai;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lường Thị Hoa
Bản án số 150/2025/HNGĐ - ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – THANH HÓA về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 150/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
