|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 15/2025/HS-ST
Ngày 30/12/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Mai.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Đại Phong và bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: PHẠM THỊ L; Tên gọi khác: Không;
Sinh ngày 02 tháng 02 năm 1947; tại: Phú Thọ;
Nơi cư trú: Số nhà 200, phố 19/5, xã Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 6/10; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;
Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 025147005076, cấp ngày 12 tháng 7 năm 2021; Nơi cấp: Cục C2 về TTXH – Bộ C3.
Con ông Phạm Văn V (đã chết) và bà Đinh Thị L1 (đã chết);
Chồng: Nguyễn Văn C (đã chết); Con: Có 04 con (lớn 58 tuổi, nhỏ 49 tuổi).
Tiền án; Tiền sự: Không.
Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Anh Đỗ Mạnh C1, sinh năm 1969 (vắng mặt);
- Địa chỉ: khu E, xã M, tỉnh Phú Thọ.
- + Anh Đinh Công H, sinh năm 2002 (vắng mặt);
- Địa chỉ: khu E, xã H, tỉnh Phú Thọ.
- + Anh Đinh Anh T, sinh năm 1983 (vắng mặt).
- Địa chỉ: khu Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ.
- + Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976 (có mặt);
- Địa chỉ: Phố B, xã T, tỉnh Phú Thọ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lợi dụng việc ký kết hợp đồng làm đại lý xổ số với Công ty TNHH MTV X tại nhà ở của gia đình tại phố A, xã T, tỉnh Phú Thọ và do hám lời, cần tiền tiêu sài cá nhân nên Phạm Thị L đã căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Phú Thọ để tự lập bảng bán các số lô, số đề cho người chơi nhằm thu lợi bất chính. Bị cáo L tự lập bảng ghi số lô, số đề sau đó ai mua thì bị cáo bán cho họ, nếu người chơi trúng thưởng thì bị cáo có trách nhiệm tự trả thưởng cho người trúng thưởng.
Hồi 17 giờ 30 phút, ngày 22/9/2025, Công an xã T kiểm tra, phát hiện, bị cáo L đang có hành vi bán số đề trong phòng khách của nhà ở tại phố A, xã T cho các đối tượng như sau: Đỗ Mạnh C1 mua các số đề: 34, 90, 91, 92, 95, 97, 99, 62, 42, 32, 29, 37, 30,35, 07, 57, 77, 87, 27, 38, 32, 26, 24 mỗi số 5.000đ; “đầu” 2, “đầu” 3, “đuôi” 2, “đuôi” 3 mỗi số 50.000đ, số tiền C1 trả cho bị cáo L là: 315.000đ; Đinh Anh T mua các số đề: “dây” 12, 15, 19, 24 mỗi “dây” 800.000đ, số đề: 26 = 150.000đ, tổng số tiền T trả cho bị cáo L là: 3.350.000đ; Đinh Công H mua các số đề: “dây” 04, 34, 31 mỗi “dây” 800.000đ, số đề 21 = 200.000đ, tổng số tiền T trả cho bị cáo L là: 2.600.000đ. Tổng số tiền bị cáo L đã bán số đề cho C1, T, H trong ngày 22/9/2025 là: 6.265.000đ.
Quá trình kiểm tra đã phát hiện: Trên bàn chỗ bị cáo L ngồi có 01 tờ giấy dòng kẻ màu xanh ghi nhiều số màu đen có ghi chữ “C1”, C1 khai đây là cáp đề C1 đưa cho bị cáo L; trên tay trái của H có 02 mảnh giấy (cáp đề) có chữ ký, H khai đây là cáp đề bị cáo L ghi cho H; tại túi áo bên trái của T 02 mảnh giấy (cáp đề), T khai đây là cáp đề bị cáo L ghi cho T.
Công an xã T đã lập biên bản phạm tội quả tang, tạm giữ trong túi xách giả da màu đen của bị cáo L số tiền 8.350.000đ; 02 cáp đề của H; 02 cáp đề của T; 01 cáp đề của C1; 01 bàn kim loại, 01 ghế tựa, 01 túi giả da màu đen của L.
Công an xã T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bà Phạm Thị L tạm giữ: 01 bút bi; 01 tập cáp dùng đề ghi số đề; 01 tờ giấy A4 là bảng ghi số lô, đề ngày 22/9/2025, 01 điện thoại di động SAMSUNG màu đen.
Về hình thức đánh số đề, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L và các đối tượng có liên quan khai, bị cáo và người chơi quy ước về cách chơi và cách xác định được, mất khi mua số đề như sau: Người chơi tự chọn một số có hai chữ số từ 00 đến 99 rồi tiến hành đặt cược, sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày, người chơi đối chiếu với hai số cuối của giải đặc biệt nếu trùng sẽ thắng cược và được trả thưởng số tiền gấp 70 lần số tiền đã đặt cược, nếu không trùng thì thua cược và mất số tiền đã đặt cược. Đối với hình thức chơi số đề là “Dây”: “Dây đề” là tập hợp hoán vị của các số đề có hai chữ số mà hàng chục và hàng đơn vị hơn kém nhau năm đơn vị.
- Vật chứng vụ án :
- + Vật chứng được lưu tại hồ sơ vụ án gồm: 02 mảnh giấy (cáp đề): 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi ngày 22/9 và nhiều số khác nhau và có 01 chữ ký; 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi chữ và nhiều số tự nhiên khác nhau (tạm giữ của T); 02 mảnh giấy (cáp đề): 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi ngày 22/9 và nhiều số khác nhau và có 01 chữ ký, 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi chữ và nhiều số tự nhiên khác nhau (tạm giữ của H); 01 mảnh giấy (cáp đề), có dòng kẻ màu xanh, một mặt ghi nhiều số màu đen và có ghi chữ "C1" màu xanh (tạm giữ của C1) tất cả được đựng trong 01 phong bì được dán kín có đóng 03 dấu của Công an xã T; 01 USB nhãn hiệu SanDisk màu đen, loại 16GB được đựng trong 01 phong bì dán kín có đóng 02 dấu của Công an xã T và chữ ký ghi rõ họ tên của Phạm Thị L, Nguyễn Kiều H1 và lãnh đạo Công an xã T.
- + Vật chứng được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P bàn giao cho Phòng Thi hành án dân sự số 7 - Phú Thọ gồm: 01 tờ giấy (bảng đề) khổ A4 màu trắng đã cũ, bên trên có in nhiều dòng kẻ kèm theo các chữ số từ 00 đến 99 và nhiều chữ số viết tay đề ngày 22 tháng 9; Tập cáp đề (gồm 36 tờ), màu trắng có in "Ngày.../.../202..." màu đỏ, bên trên chưa ghi chép thông tin gì; 01 bút bi, nhãn hiệu Thiên Long màu xanh, đã qua sử dụng; 01 túi xách, loại giả da màu đen, có quai xách màu đen, miệng túi có khóa bằng kim loại màu trắng; 01 bàn làm bằng kim loại màu xanh đã qua sử dụng; 01 ghế tựa có chân kim loại, phần tựa lưng và đệm ngồi được bọc mút giả da màu đen, ghế đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, bên trong lắp sim số 0972.485.695 (tạm giữ của bị cáo L);
- + Tiền mặt được gửi trong tài khoản tạm giữ của Công an tỉnh P mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh P là: 8.350.000 đồng (Tám triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ trong túi xách giả da màu đen của bị cáo L.
2. Các vấn đề khác của vụ án:
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Thị L về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) sau đây viết tắt là Bộ luật hình sự.
Ngoài bán số đề cho Đỗ Mạnh C1, Đinh Công H, Đinh Anh T, bị cáo L còn bán số đề cho một số người khác vào ngày 22/9/2025. Tuy nhiên, L không rõ tên tuổi, địa chỉ của những người này và những người này chưa trả tiền mua các số lô số đề cho L và không có số cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với những người trên.
Quá trình điều tra xác định, trong tổng số 8.350.000 đồng thu giữ trong túi xách của L, có 6.265.000 đồng là tiền Lương bán các số đề, số tiền 2.085.000 đồng còn lại L vay của chị Nguyễn Thị T1 để nhập hàng về bán, không liên quan đến việc mua bán số lô số đề.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã ra Quyết định trưng cầu giám định số C926, ngày 25/9/2025 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định dữ liệu có trong điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen, bên trong lắp sim số 0972.485.695 của L. Tại Kết luận giám định số 2471, ngày 09/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh P đã khôi phục và trích xuất dữ liệu gồm: Danh bạ, lịch sử cuộc gọi, tin nhắn SMS, tin nhắn ứng dụng Zalo có trong điện thoại của L. Kết quả khai thác dữ liệu đã được khôi phục không phát hiện tài liệu, nội dung gì liên quan đến việc bán số đề của L.
Đối với Đỗ Mạnh C1, Đinh Anh T, Đinh Công H: Ngày 22/09/2025 có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số đề, tuy nhiên số tiền C1, T, H đánh bạc đều dưới 5.000.000đ. Bản thân các đối tượng đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, hoặc bị kết án về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Hành vi đánh bạc của C1, T, H chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên ngày 27/10/2025, Công an xã T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Nghị định số: 144/2021/NĐ - CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ đối với C1, T, H mức tiền phạt: 350.000 đồng mỗi người.
- Về tình trạng thu nhập, điều kiện kinh tế của bị cáo: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh tình trạng, kinh tế tài sản của bị cáo thấy rằng, bị cáo Phạm Thị L hiện sống cùng gia đình con trai tại phố A, xã T, tỉnh Phú Thọ, gia đình có 01 nhà 2 tầng lợp tôn, trên diện tích đất khoảng 80 m², tài sản đồ dùng sinh hoạt trong gia đình là của con trai, bản thân bị cáo không có tài sản riêng có giá trị lớn. Hiện nay bị cáo L do tuổi cao nên ở nhà, sống phụ thuộc vào con, bị cáo không có nguồn thu nhập gì.
+ Tại phiên tòa: Bị cáo khai, từ ngày 01/7/2025 bị cáo được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội với số tiền 500.000 đồng/ 1 tháng. Bị cáo có đơn xin miễn nộp tiền án phí sơ thẩm vì là người cao tuổi.
- Về nhân thân: Bị cáo L được Chủ tịch nước tặng Huy Chương kháng chiến hạng nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Chồng của bị cáo là ông Nguyễn Văn C được Hội đồng Nhà nước tặng Huân Chương kháng chiến hạng Ba vì đã có công lao động trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
3. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Tại Bản cáo trạng số: 09/CT – VKS - KV7 ngày 03/12/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Phạm Thị L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự, tuyên bố Bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Đánh bạc”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, o, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 34 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Cảnh cáo đối với Bị cáo Phạm Thị L.
- - Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Thị L.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- + Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 6.265.000 đồng (Sáu triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tạm giữ của Phạm Thị L.
- + Tịch thu, tiêu hủy các đồ vật tạm giữ của Phạm Thị L gồm: 01 tờ giấy (bảng đề), khổ A4 màu trắng đã cũ, bên trên có in nhiều dòng kẻ kèm theo các chữ số từ 00 đến 99 và nhiều chữ số viết tay đề ngày 22 tháng 9; Tập cáp đề (gồm 36 tờ) màu trắng có in "Ngày.../.../202..." màu đỏ, bên trên chưa ghi chép thông tin gì; 01 bút bi, nhãn hiệu Thiên Long màu xanh, đã qua sử dụng; 01 túi xách, loại giả da màu đen, có quai xách màu đen, miệng túi có khóa bằng kim loại màu trắng; 01 chiếc bàn làm bằng kim loại màu xanh đã qua sử dụng; 01 ghế tựa có chân kim loại, phần tựa lưng và đệm ngồi được bọc mút giả da màu đen, ghế đã qua sử dụng.
- + Trả lại cho bị cáo Phạm Thị L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, bên trong lắp sim số 0972.485.695, điện thoại không còn lên nguồn và số tiền 2.085.000 đồng (Hai triệu không trăm tám mươi lăm nghìn đồng).
- + Tịch thu, lưu hồ sơ vụ án: 02 mảnh giấy (cáp đề): 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi ngày 22/9 và nhiều số khác nhau và có 01 chữ ký; 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi chữ và nhiều số tự nhiên khác nhau (tạm giữ của T); 02 mảnh giấy (cáp đề): 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi ngày 22/9 và nhiều số khác nhau và có 01 chữ ký, 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi chữ và nhiều số tự nhiên khác nhau (tạm giữ của H); 01 mảnh giấy (cáp đề), có dòng kẻ màu xanh, một mặt ghi nhiều số màu đen và có ghi chữ "C1" màu xanh (tạm giữ của C1) tất cả được đựng trong 01 phong bì được dán kín có đóng 03 dấu của Công an xã T, là vật chứng chứng minh tội phạm được chuyển theo hồ sơ và 01 USB nhãn hiệu SanDisk màu đen, loại 16GB được đựng trong 01 phong bì dán kín có đóng 02 dấu của Công an xã T và chữ ký ghi rõ họ tên của Phạm Thị L, Nguyễn Kiều H1 và lãnh đạo Công an xã T, là vật chứng trong quá trình điều tra, xác minh tội phạm được chuyển theo hồ sơ.
- - Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Thị L.
4. Bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, cho Bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của bị cáo thống nhất, phù hợp với lời khai của người liên quan cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 22/9/2025 tại phố A, xã T, tỉnh Phú Thọ tổ công tác của Công an xã T, tỉnh Phú Thọ đã kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang bị cáo Phạm Thị L đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề cho Đỗ Mạnh C1 với số tiền 315.000đ; Đinh Công H với số tiền 2.600.000đ và Đinh Anh T với số tiền: 3.350.000đ. Tổng số tiền bị cáo L đã bán số đề cho C1, T, H là: 6.265.000đ. Hành vi đánh bạc của bị cáo L bị phát hiện trước khi có kết quả xổ số Phú Thọ trong ngày.
Bị cáo Phạm Thị Lương thực H2 trong trạng thái tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Đối với Đỗ Mạnh C1, Đinh Anh T, Đinh Công H thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền đều dưới 5.000.000đ. Do C1, T và H đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên hành vi đánh bạc của C1, T, H chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, ngày 27/10/2025, Công an xã T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định số: 144/2021/NĐ - CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ đối với C1, T, H mức tiền phạt: 350.000 đồng mỗi người là phù hợp.
Từ các nhận định trên đã đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Phạm Thị L đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 Điều 321 quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
- - Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của Bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy cần được đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- - Về nhân thân các Bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người đủ 70 tuổi trở lên; Bị cáo L được Chủ tịch nước tặng Huy Chương kháng chiến hạng nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên theo quy định tại khoản 1 Điều 3, Điều 38 Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09/12/2020 về Ưu đãi người có công với cách mạng thì bị cáo là “Người có công với cách mạng”; Bị cáo có chồng là ông Nguyễn Văn C được Hội đồng Nhà nước tặng Huân Chương kháng chiến hạng Ba vì đã có công lao động trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do đó, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51, Điều 52 của Bộ luật hình sự thì Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, o, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo có nhân thân tốt, có 04 (bốn) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và 01 (một) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo tuổi cao, sức khỏe yếu, có tiền sử bệnh Cao huyết áp được thể hiện tại Sổ theo dõi dức khỏe của Bảo hiểm xã hội P. Theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự thì hình phạt tiền là hình phạt nhẹ nhất, tuy nhiên bị cáo không có tài sản riêng có giá trị. Do đó, cần áp dụng Điều 34, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự, chuyển sang hình phạt “Cảnh cáo” là hình phạt nhẹ hơn để áp dụng đối với Bị cáo là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, Bị cáo Phạm Thị L không có tài sản riêng có giá trị nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với vật chứng được lưu tại hồ sơ vụ án gồm: 02 mảnh giấy (cáp đề): 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi ngày 22/9 và nhiều số khác nhau và có 01 chữ ký và 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi chữ và nhiều số tự nhiên khác nhau (tạm giữ của T); 02 mảnh giấy (cáp đề): 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi ngày 22/9 và nhiều số khác nhau, có 01 chữ ký và 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi chữ và nhiều số tự nhiên khác nhau (tạm giữ của H); 01 mảnh giấy (cáp đề), có dòng kẻ màu xanh, một mặt ghi nhiều số màu đen và có ghi chữ "C1" màu xanh (tạm giữ của C1) tất cả được đựng trong 01 phong bì được dán kín có đóng 03 dấu của Công an xã T. Đây là vật chứng, chứng minh tội phạm được chuyển theo hồ sơ, cần tịch thu lưu hồ sơ.
- 01 USB nhãn hiệu SanDisk màu đen, loại 16GB được đựng trong 01 phong bì dán kín có đóng 02 dấu của Công an xã T và chữ ký ghi rõ họ tên của Phạm Thị L, Nguyễn Kiều H1 và lãnh đạo Công an xã T là vật chứng được thực hiện trong quá trình điều tra, xác minh được chuyển theo hồ sơ, cần tịch thu lưu hồ sơ.
- - Đối với vật chứng được nhập kho vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P gồm:
- + 01 tờ giấy (bảng đề) khổ A4 màu trắng đã cũ, bên trên có in nhiều dòng kẻ kèm theo các chữ số từ 00 đến 99 và nhiều chữ số viết tay đề ngày 22 tháng 9; Tập cáp đề (gồm 36 tờ), màu trắng có in "Ngày.../.../202..." màu đỏ, bên trên chưa ghi chép thông tin gì; 01 bút bi, nhãn hiệu Thiên Long màu xanh, đã qua sử dụng; 01 túi xách, loại giả da màu đen, có quai xách màu đen, miệng túi có khóa bằng kim loại màu trắng; 01 chiếc bàn làm bằng kim loại màu xanh đã qua sử dụng; 01 ghế tựa có chân kim loại, phần tựa lưng và đệm ngồi được bọc mút giả da màu đen, ghế đã qua sử dụng tạm giữ của bị cáo L. Đây là những tài sản, đồ vật là công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị của bị cáo L. Tại phiên tòa, bị cáo L không nhận lại, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý, tiêu hủy. Vì vậy, cần tịch thu để tiêu hủy.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, bên trong lắp sim số 0972.485.695 tạm giữ của bị cáo L. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định, đây là tài sản riêng của bị cáo, không được sử dụng để làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
- Tiền mặt được gửi trong tài khoản tạm giữ của Công an tỉnh P mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh P là: 8.350.000 đồng (Tám triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ trong túi xách giả da màu đen của L. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định trong số tiền trên có 6.265.000 đồng là tiền do bị cáo bán số đề mà có nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền 2.085.000 đồng còn lại là tiền bị cáo vay của chị Nguyễn Thị T1 để nhập hàng về bán, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
[5] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí:
Bị cáo L là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí sơ thẩm nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp.
[7] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ kết tội, tội danh:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
- - Tuyên bố bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Đánh bạc”.
2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt, biện pháp tư pháp:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, o, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 34 của Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt: Cảnh cáo đối với bị cáo Phạm Thị L.
- - Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Thị L.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 6.265.000 đồng (Sáu triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tạm giữ của Phạm Thị L.
- - Tịch thu, tiêu hủy các đồ vật tạm giữ của Phạm Thị L gồm: 01 tờ giấy (bảng đề), khổ A4 màu trắng đã cũ, bên trên có in nhiều dòng kẻ kèm theo các chữ số từ 00 đến 99 và nhiều chữ số viết tay đề ngày 22 tháng 9; Tập cáp đề (gồm 36 tờ) màu trắng có in "Ngày.../.../202..." màu đỏ, bên trên chưa ghi chép thông tin gì; 01 bút bi, nhãn hiệu Thiên Long màu xanh, đã qua sử dụng; 01 túi xách, loại giả da màu đen, có quai xách màu đen, miệng túi có khóa bằng kim loại màu trắng; 01 chiếc bàn làm bằng kim loại màu xanh đã qua sử dụng; 01 ghế tựa có chân kim loại, phần tựa lưng và đệm ngồi được bọc mút giả da màu đen, ghế đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo Phạm Thị L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, bên trong lắp sim số 0972.485.695, điện thoại không còn lên nguồn và số tiền 2.085.000 đồng (Hai triệu không trăm tám mươi lăm nghìn đồng).
- Vật chứng là tài sản, đồ vật đã được cơ quan CSĐT Công an tỉnh P bàn giao cho Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Phú Thọ ngày 30/12/2025. Vật chứng là tiền, đã cơ quan Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P chuyển khoản cho Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo Ủy nhiệm chi ngày 24/12/2025 tại Kho bạc Nhà nước khu vực VIII.
- - Tịch thu, lưu hồ sơ vụ án:
- + 02 mảnh giấy (cáp đề): 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi ngày 22/9 và nhiều số khác nhau và có 01 chữ ký; 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi chữ và nhiều số tự nhiên khác nhau (tạm giữ của T); 02 mảnh giấy (cáp đề): 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi ngày 22/9 và nhiều số khác nhau và có 01 chữ ký, 01 mảnh giấy màu trắng, một mặt màu trắng, một mặt có ghi chữ và nhiều số tự nhiên khác nhau (tạm giữ của H); 01 mảnh giấy (cáp đề), có dòng kẻ màu xanh, một mặt ghi nhiều số màu đen và có ghi chữ "C1" màu xanh (tạm giữ của C1) tất cả được đựng trong 01 phong bì được dán kín có đóng 03 dấu của Công an xã T được chuyển theo hồ sơ.
- + 01 USB nhãn hiệu SanDisk màu đen, loại 16GB được đựng trong 01 phong bì dán kín có đóng 02 dấu của Công an xã T và chữ ký ghi rõ họ tên của Phạm Thị L, Nguyễn Kiều H1 và lãnh đạo Công an xã T được chuyển theo hồ sơ.
4. Về án phí:
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Thị L.
5. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Mai |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ về đánh bạc (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án đánh bạc Phạm Thị Lương
