Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 15/2026/DS-PT

Ngày 16/01/2026

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Vương Thảo

Các Thẩm phán: Ông Trần Hoài Sơn, Ông Vũ Việt Dũng

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tiến - Thư ký TAND TP. Đà Nẵng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 16/01/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 157/2025/TLPT-DS ngày 05/11/2025 về việc “Tranh chấp chuyển quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 128/2025/DS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 435/2025/QĐ-PT ngày 30/12/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Dương Văn L, sinh năm: 1962 và bà Trần Thị T, sinh năm: 1965; cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ trước đây: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam). Có đơn xin xử vắng mặt.

  2. Bị đơn: Ông Trần V (đã chết). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn:

    • + Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1936.
    • + Ông Trần Minh Q, sinh năm: 1968.
    • + Ông Trần Minh N, sinh năm: 1973.
    • + Ông Trần Minh T2, sinh năm: 1975.
    • Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ trước đây: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam)
    • + Bà Trần Thị Y, sinh năm: 1970; địa chỉ: Thôn T, phường H, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ trước đây: Thôn T, xã T, Tp ., tỉnh Quảng Nam.
    • + Bà Trần Thị T3, sinh năm: 1978; địa chỉ: Thôn P, xã T, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ trước đây: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam).
    • + Bà Trần Thị P, sinh năm: 1984; địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ trước đây: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam).

    Các ông bà có tên trên đồng ủy quyền cho ông Ông Trần Minh Q, sinh năm: 1968; Địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ trước đây: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam)

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • + Ông Trần Minh Q, sinh năm: 1968; địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ trước đây: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam); có mặt.
    • + Ông Dương Thế Đ, sinh năm 1990.
    • + Bà Dương Thị Thùy D, sinh năm 1993.
    • + Bà Dương Thị Thùy N1, sinh năm 1995.
    • + Ông Dương Thế S, sinh năm 1997.
    • Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố Đà Nẵng; (địa chỉ trước đây: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam)
  4. Người kháng cáo: Ông Trần Minh Q, là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo tại bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Dương Văn L trình bày:

Ông và vợ ông là bà Trần Thị T là người sử dụng thửa đất số 107, tờ bản đồ 6, diện tích 1560m² tại thôn B, xã T, huyện N theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 532113 do UBND huyện N cấp ngày 09/01/2003. Về nguồn gốc quyền sử dụng đất là của bà Đỗ Thị T4 chuyển nhượng cho ông, bà. Khoảng năm 1978-1979 nhà nước làm kênh mương thủy lợi đi qua một phần diện tích đất phía sau. Lúc này hoàn cảnh kinh tế đất nước khó khăn nên gia đình nào cũng bận việc mưu sinh. Lợi dụng việc này ông Trần V ở cạnh bên đã lấn chiếm trồng cây, vợ chồng ông, bà đã có ý kiến yêu cầu ông V trả lại nhưng ông bảo ông trồng tạm các cây ngắn ngày khi cần sẽ trả lại đất. Sau thời gian ông V trồng cây thì đến con ông là Trần Minh Q trồng cây và sử dụng đến nay mặc dù vợ chồng ông, bà đã nhiều lần đòi lại đất nhưng ông V, Q vẫn không trả. Hiện nay trên đất chỉ có cây trồng của ông Q, vợ và những người con khác của ông V không trồng trọt gì trên đất.

Vì vậy, ông L, bà T khởi kiện đến Tòa án yêu cầu Tòa án buộc ông Trần V (nay ông V đã chết) nên yêu cầu những người thừa kế của ông V gồm: bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Minh Q, ông Trần Minh N, ông Trần Minh T2, bà Trần Thị Y, bà Trần Thị T3, bà Trần Thị P trả lại diện tích đất đã lấn chiếm với diện tích 166,7m² theo trích đo hiện trạng thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N xác lập.

Hộ ông Dương Văn L gồm các thành viên: ông Dương Văn L (sinh năm 1962), bà Trần Thị T (sinh năm 1965), ông Dương Thế Đ (sinh năm 1990), bà Dương Thị Thùy N1 (sinh năm 1995), ông Dương Thế S (sinh năm 1997). Hiện nay hộ gia đình ông, bà gồm ông, bà và các con nhưng ông, bà là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất nên gia đình thống nhất là yêu cầu những người thừa kế của ông Trần V gồm: Nguyễn Thị T1, ông Trần Minh Q, ông Trần Minh N, ông Trần Minh T2, bà Trần Thị Y, bà Trần Thị T3, bà Trần Thị P trả lại đất cho vợ chồng bà diện tích đất tranh chấp nêu trên.

Ông L thừa nhận toàn bộ cây cối trên đất tranh chấp là do ông Q trồng trước đây. Ông thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả định giá theo giá nhà nước quy định, không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Bà Trần Thị T, bà Dương Thị Thùy N1 thống nhất với phần trình bày của ông Dương Văn L.

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn, ông Trần Minh Q trình bày:

Gia đình ông Trần V sử dụng thửa đất có ranh giới giáp với ông L, bà T. Hiện nay đã được cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Trần V tương ứng với thửa đất số 95, tờ bản đồ số 6, diện tích 1803m², loại đất: thổ cư. Đối với phần diện tích đất mà ông L, bà T khởi kiện tranh chấp với ông V có nguồn gốc là nhà nước làm kênh thủy lợi P chạy ngang qua, bỏ hoang nên ông V khai hoang sử dụng từ năm 1985, sau đó đến ngày 20/12/2024 ông V chết (theo Trích lục khai tử số 16/TLKT-BS ngày 14/01/2025 của Ủy ban nhân dân xã T) thì gia đình ông không ai sử dụng nữa, chỉ ông là người tiếp tục sử dụng, trồng cây trên đất. Hiện nay trên đất ông đang trồng cây cau, cây vú sữa, cây dâu đất, cây khế,... theo Biên bản thẩm định, định giá của Tòa án. Phần diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận cho gia đình ông cũng như bản thân ông, còn nhà nước có cấp giấy chứng nhận cho ai không thì ông không biết.

Nay ông L, bà T khởi kiện đòi ông trả lại đất thì ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L, bà T. Trước đây ông không đồng ý trả đất nhưng vì thấy gia đình ông không có giấy tờ gì về đất, hơn nữa đất này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L, bà T thì ông trả, nhưng về thực tế thì ông trồng cây trên đất từ lâu. Toàn bộ cây cối trên đất là do ông trồng. Ông trả đất nhưng yêu cầu ông L, bà T phải trả cho ông giá trị đối với mỗi cây cau (kể cả cây cau đã có quả và chưa có quả) là 300.000 đồng; mỗi cây vú sữa là 180.000 đồng; mỗi cây dâu đất là 400.000 đồng; 01 cây khế là 125.000 đồng. Ông đồng ý là chịu thiệt thấp hơn giá nhà nước quy định.

Ông Trần V chết ngày 20/12/2024, ông V và vợ là bà Nguyễn Thị T1 có 06 người con gồm: Ông Trần Minh Q, sinh năm: 1968; bà Trần Thị Y, sinh năm: 1970; ông Trần Minh N, sinh năm: 1973; ông Trần Minh T2, sinh năm: 1975; bà Trần Thị T3, sinh năm: 1978; bà Trần Thị P, sinh năm: 1984. Ngoài ra không còn người con nào khác.

Ông thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả định giá theo giá nhà nước quy định, không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Trần Minh T2 thống nhất với phần trình bày của ông Trần Minh Q.

Với nội dung trên, Bản án sơ thẩm đã xử và quyết định:

Căn cứ: các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, Điều 227, 228 và Điều 235, Điều 246 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Dân sự; các Điều 95, 96, 100, 166, 170 và Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26, 27 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH12 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn L, bà Trần Thị T đối với người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần V về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
  2. Ghi nhận một phần thỏa thuận tại phiên tòa, theo đó buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần V gồm: bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Minh Q, ông Trần Minh N, ông Trần Minh T2, bà Trần Thị Y, bà Trần Thị T3, bà Trần Thị P trả lại cho ông Dương Văn L, bà Trần Thị T quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 166,7m², tại thửa số 1357, tờ bản đồ số 20 (theo hồ sơ 64/CP là thửa 107, tờ bản đồ số 6) thuộc xã T, thành phố Đà Nẵng; có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông L, bà T; phía Tây giáp chân kênh mương nước; phía Nam giáp đất ông D1; phía Bắc giáp đất gia đình ông Q.

(Kèm theo trích đo hiện trạng sử dụng đất)

  1. Giao tài sản trên đất cho ông Dương Văn L, bà Trần Thị T được quyền sở hữu, sử dụng gồm các cây cối, gồm: 21 cây cau đã có quả; 86 cây cau chưa có quả cao hơn 2m; 03 cây vú sữa chưa quả có đường kính từ 3-nhỏ hơn 7cm; 01 cây vú sữa chưa quả đường kính từ 7 - nhỏ hơn 10cm; 05 cây dâu đất đã có quả; 01 cây khế đã có quả.

Buộc ông Dương Văn L và bà Trần Thị T phải thối trả giá trị cây cối cho ông Trần Minh Q tổng cộng là 34.945.000 đồng (Ba mươi bốn triệu, chín trăm bốn lăm nghìn đồng).

  1. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Minh Q có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông Dương Văn L, bà Trần Thị T số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 15 tháng 9 năm 2025, nguyên đơn bà Trần Thị T có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, không đồng ý trả số tiền 34.945.000 đồng là giá trị của số cây trồng cho ông Trần Minh Q, vì giá trị không phù hợp với thực tế.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, ngày 31/12/2025, nguyên đơn ông Dương Văn L, bà Trần Thị T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh Q đã thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án liên quan đến số tiền thối trả giá trị cây trồng và chi phí tố tụng, cụ thể như sau:

  • + Ông Dương Văn L và bà Trần Thị T phải trả cho ông Trần Minh Q tổng cộng là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng y). Đã giao nhận xong.
  • + Ông Dương Văn L, bà Trần Thị T tự nguyện chịu số tiền chi phí tố tụng là 5.000.000 đồng.
  • + Quyền sử dụng đất, theo quyết định của Bản án sơ thẩm.
  • + Án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:

  • + Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm.
  • + Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 300 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2025/DS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng; công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn ông L, bà T với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh Q, do nội dung thỏa thuận là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự về sự thỏa thuận, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Do ông Dương Văn L, bà Trần Thị T và ông Trần Minh Q (đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần V) và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án áp dụng khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung: Trước khi mở phiên tòa, ngày 31/12/2025, giữa nguyên đơn vợ chồng ông Dương Văn L, bà Trần Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh Q đã thỏa thuận được với nhau về giá trị số cây cối mà ông L, bà T phải trả cho ông Trần Minh Q và chi phí tố tụng.

Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, áp dụng Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên.

[3] Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần V gồm: bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Minh Q, ông Trần Minh N, ông Trần Minh T2, bà Trần Thị Y, bà Trần Thị T3, bà Trần Thị P phải liên đới chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

- Ông Dương Văn L, bà Trần Thị T là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 300 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 158 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 95, 96, 100,166, 170 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2025/DS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng về việc thối trả giá trị cây cối trên đất và chi phí tố tụng. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về giá trị cây cối nguyên đơn phải thối trả và chi phí tố tụng.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn L, bà Trần Thị T đối với người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần V về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
  2. Ghi nhận một phần thỏa thuận tại phiên tòa, theo đó buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần V gồm: Bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Minh Q, ông Trần Minh T2, bà Trần Thị Y, bà Trần Thị T3, bà Trần Thị P trả lại cho ông Dương Văn L, bà Trần Thị T quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 166,7m², tại thửa số 1357, tờ bản đồ số 20 (theo hồ sơ 64/CP là thửa 107, tờ bản đồ số 6) thuộc xã T, thành phố Đà Nẵng; có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông L, bà T; phía Tây giáp chân kênh mương nước; phía Nam giáp đất ông D1; phía Bắc giáp đất gia đình ông Q.

(Kèm theo trích đo hiện trạng sử dụng đất)

  1. Giao tài sản trên đất cho ông Dương Văn L, bà Trần Thị T được quyền sở hữu, sử dụng gồm các cây cối, gồm: 21 cây cau đã có quả; 86 cây cau chưa có quả cao hơn 2m; 03 cây vú sữa chưa quả có đường kính từ 3-nhỏ hơn 7cm; 01 cây vú sữa chưa quả đường kính từ 7 - nhỏ hơn 10cm; 05 cây dâu đất đã có quả; 01 cây khế đã có quả.

Ông Dương Văn L, bà Trần Thị T phải thối trả giá trị cây cối cho ông Trần Minh Q tổng cộng là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Ông L, bà T đã giao đủ tiền cho ông Trần Minh Q.

  1. Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng 5.000.000 đồng ông Dương Văn L, bà Trần Thị T tự nguyện chịu (Đã nộp và đã chi).
  2. Về án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm: Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần V gồm: Bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Minh Q, ông Trần Minh N, ông Trần Minh T2, bà Trần Thị Y, bà Trần Thị T3, bà Trần Thị P phải liên đới chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Hoàn trả cho Dương Văn L, bà Trần Thị T số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0011564 ngày 20/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- TAND khu vực 5 - ĐN;

- VKSND TP Đà Nẵng;

- THADS TP Đà Nẵng;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Vương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2026/DS-PT ngày 16/01/2026 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 15/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: DSPT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger