Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 3 – CẦN THƠ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 143/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29/12/2025

V/v “Tranh chấp ly hôn, con chung"

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Khiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Hoàng Long
  2. Bà Võ Thị Kim Son

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quỳnh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Tô Minh Phú– Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 211/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 610/2025/QĐXXST-HN ngày 09 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1982. Nơi thường trú: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (cũ).

Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ. Có mặt

2. Bị đơn: Ông Ngô Trung B, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày tại đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 7 năm 2025, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Bà và ông Ngô Trung B tự nguyện tiến tới quan hệ hôn nhân vào năm 2003 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ (cũ) theo quy định pháp luật và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 05 tháng 9 năm 2003. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian dài, sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, dù vợ chồng vẫn sống chung nhà. Nay bà T nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông Ngô Trung B. Về con chung, trong quá trình chung sống có 02 con chung là cháu Ngô Quốc B1 (nam), sinh năm 2003 đã trưởng thành và cháu Ngô Gia H (nam), sinh năm 2015 khi ly hôn, bà T yêu cầu nuôi dưỡng cháu H và không yêu cầu ông B cấp dưỡng phí nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung bà trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Ngô Trung B thì trình bày tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 19 tháng 11 năm 2025 như sau: Ông thống nhất với bà T về quá trình tiến tới hôn nhân và con chung như bà T trình bày là đúng. Hiện tại vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chưa trầm trọng. Nay bà T yêu cầu ly hôn với ông. Ông có ý kiến sau: Về quan hệ hôn nhân ông không đồng ý ly hôn với bà T do còn thương vợ con, ông xin đoàn tụ. Về con chung trường hợp Tòa án quyết định cho ly hôn thì ông đồng ý giao cháu Ngô Gia H (nam), sinh năm 2015 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng cháu H, ông không cấp dưỡng nuôi con, cháu B1 đã trưởng thành ông không có ý kiến. Về tài sản chung, nợ chung ông thống nhất với bà T là không có nợ chung, tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Diễn biến tại phiên toà,

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày, bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với ông Ngô Trung B, bà yêu cầu được ly hôn, bà T yêu cầu nuôi dưỡng cháu H và không yêu cầu ông B cấp dưỡng phí nuôi con chung.

Bị đơn ông Ngô Trung B không đồng ý ly hôn, nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn ông đồng ý giao cháu H cho bà T nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Cần Thơ phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Quá thời hạn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định tại Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Về nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát nhận định về hôn nhân: Xét thấy hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên thì mới có được hạnh phúc. Nay cuộc sống hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã có nhiều mâu thuẫn, không còn tình cảm, nguyên đơn nộp đơn xin ly hôn, trong khi ông B muốn gia đình sum họp nhưng không chủ động quyết liệt do đó đời sống chung không thể hàn gắn để tiếp tục nên yêu cầu được ly hôn của nguyên đơn bà T là có cơ sở xem xét chấp nhận, về con chung đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận giữa bà T, ông B giao con chung là cháu H cho bà T nuôi dưỡng, ông B không cấp dưỡng nuôi con (Đính kèm phát biểu số 159/PB-VKS-HNGĐ ngày 29/12/2025).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ kiện đã được Tòa án thụ lý theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

[2] Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu được ly hôn với ông Ngô Trung B. Hội đồng xét xử thấy rằng tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về ly hôn giữa công dân với công dân thuộc ngành Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3– Cần Thơ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Ngô Trung B tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định nên xem đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Mâu thuẫn phát sinh do tính tình không hợp nhau, vợ chồng có sự bất đồng quan điểm sống, mặc dù hai bên cũng có tạo điều kiện hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả và hiện tại bà T và ông B tuy sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm giữa bà ông đã thực sự rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, bà T có đơn ly hôn, ông B không đồng ý ly hôn nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án Toà án có tổ chức hoà giải để ghi nhận ý kiến động viên các bên đoàn tụ nhưng ông B không có biện pháp hàn gắn đoàn tụ, đồng thời bà T kiên quyết ly hôn nên không thể xem xét ý kiến yêu cầu được đoàn tụ của ông B.

[3.1] Về con chung, ghi nhận sự thỏa thuận giữa bà T, ông B về việc ông bà thống nhất để Ngô Gia H (nam), sinh năm 2015 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, ông B không phải cấp dưỡng phí nuôi con. Cháu Ngô Quốc B1 (nam), sinh năm 2003 đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung bà T ông B thống nhất không có, nên không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T đối với bị đơn ông Ngô Trung B là phù hợp với quy định pháp luật.

[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo, các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 27, Điều 37, Điều 33, Điều 55, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T đối với bị đơn ông Ngô Trung B.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với bị đơn ông Ngô Trung B.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa bà T, ông B về việc để cháu Ngô Gia H (nam), sinh năm 2015 cho T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu H đủ 18 tuổi, ông B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Ngô Trung B không ai được quyền ngăn cản.

Về tài sản chung, nợ chung không xem xét giải quyết. Dành quyền khởi kiện thành vụ kiện khác khi phát sinh tranh chấp và đương sự có yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T phải nộp 300.000đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số 0003854 ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND khu vực 3– Cần Thơ;
  • - Thi hành án khu vực 3– Cần Thơ;
  • - Tòa án ND TP. Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Lê Thanh Khiêm

300.000đồng theo biên lai thu số 0003854 ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Lê Hoàng Long Võ Thị Kim Son

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thanh Khiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2025/HNGĐ-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 143/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger