|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2025/DS-ST
Ngày 26/12/2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Rực
Bà Trần Thị Thanh Nhanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Huy-Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9-Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 9-Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Dương Hồng Thủy-Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9-Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 58/2025/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 (sau viết tắt là Ngân hàng L2); Địa chỉ: L2, Số B T, phường H, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Huỳnh Minh T-Trưởng Nhóm Kinh doanh Ngân hàng L2-Chi nhánh S-Phòng G; Địa chỉ: ấp C, xã L, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1974; Địa chỉ: ấp C, xã T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Huỳnh Minh T trình bày:
Vào ngày 22/5/2018, ông Nguyễn Thanh L đã ký với Ngân hàng L2 Hợp đồng sử dụng số HDTD882201800182 cùng khế ước nhận nợ, hạn mức tín dụng là 180.000.000 đồng, mục đích sửa chữa nhà ở và mua sắm đồ tiêu dùng. Sau khi cấp tín dụng thì ông L không thanh toán số tiền nợ gốc và lãi còn lại nên đã vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký.
Nay Ngân hàng yêu cầu giải quyết buộc ông L thanh toán số tiền nợ tạm tính đến ngày 26/12/2025 là tổng số tiền nợ là 49.664.936 đồng, trong đó: nợ gốc là 27.457.918 đồng và nợ lãi là 22.207.018 đồng cùng tiền lãi phát sinh tính từ ngày 27/12/2025 cho khi thanh toán xong tất cả các khoản nợ.
Đối với bị đơn là là ông Nguyễn Thanh L sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng của Tòa án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án thì Thẩm phán xác định về thẩm quyền, quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của pháp luật và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cũng đảm bảo. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký cũng chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
- - Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Tại phiên tòa, bị đơn là ông Nguyễn Thanh L đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
[2]. Ngân hàng L2 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thanh L có nơi cư trú tại xã T, thành phố Cần Thơ thanh toán số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng nên quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng và Tòa án nhân dân Khu vực 9-Cần Thơ đã thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3]. Đối với bị đơn là ông Nguyễn Thanh L sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình hoạt động tố tụng của Tòa án, không có ý kiến gì hay gửi văn bản cho Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, căn cứ Khoản 2, Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[4]. Tại Hợp đồng tín dụng số HDTD882201800182 ngày 22/5/2018 cùng khế ước nhận nợ, phía dưới có chữ ký và chữ viết của đại diện Ngân hàng L2 và ông L nên có đủ căn cứ xác định giữa ông L với Ngân hàng thực tế có giao kết hợp đồng thẻ tín dụng dựa trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, về hình thức và nội dung của hợp đồng tại thời điểm xác lập phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, hợp đồng nêu trên là hợp pháp, các đương sự đều có quyền và nghĩa vụ như nhau khi giao kết hợp đồng nên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng.
[5]. Theo nội dung hợp đồng tín dụng thể hiện Ngân hàng đã giải ngân cho ông L với hạn mức là 180.000.000 đồng, nhưng đến nay ông L vẫn không tiếp tục thanh toán nợ theo thỏa thuận hợp đồng đã ký với Ngân hàng.
Do đó, ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo thỏa thuận tại Điều 2, Điều 4, Điều 8 và Điều 9 của Hợp đồng tín dụng đã ký nên ngân hàng có quyền yêu cầu ông L thanh toán nợ gốc là 27.457.918 đồng là phù hợp với quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng; Điều 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (sửa đổi, bổ sung năm 2023 và 2025).
[6]. Về lãi suất: Theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cùng khế ước nhận nợ thể hiện lãi suất là 12,5%/năm được điều chỉnh định kỳ thay đổi trong thời hạn vay, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Xét thấy, quá trình thực hiện hợp đồng thì ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ lãi nên Ngân hàng L2 yêu cầu thanh toán tiền nợ lãi tính đến ngày 26/12/2026 gồm: nợ lãi trong hạn là 2.019.600 đồng và nợ lãi quá hạn là 20.187.418 đồng cùng tiền lãi tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản nợ là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức Tín dụng và Điều 13, Điều 14 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (sửa đổi, bổ sung các năm 2023, 2024 và 2025).
Từ những căn cứ và nhận định nêu trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[8]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91; Khoản 1, Khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 đối với bị đơn là ông Nguyễn Thanh L về hợp đồng tín dụng.
-
Buộc ông Nguyễn Thanh L thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 với tổng số tiền nợ tại Hợp đồng tín dụng số HDTD882201800182 ngày 22/5/2018 cùng khế ước nhận nợ là 49.664.936 đồng, trong đó: nợ gốc là 27.457.918 đồng, lãi trong hạn là 2.019.600 đồng và nợ lãi quá hạn là 20.187.418 đồng.
Kể từ ngày 27/12/2025, ông Nguyễn Thanh L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trên số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong các khoản tiền cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà ông Nguyễn Thanh L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Thanh L phải chịu án phí sơ thẩm là 2.483.247 đồng.
Hoàn trả Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 tiền tạm ứng án phí là 1.169.265 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003436 ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án Dân sự thành phố C.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Bảo Quốc |
Bản án số 142/2025/DS-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 142/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 đối với bị đơn là ông Nguyễn Thanh L về hợp đồng tín dụng.
