Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2025/HS-PT

Ngày 30/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.
  • Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tú và bà Nguyễn Thị Minh Thu.
  • Thư ký phiên toà: Bà Lương Mỹ Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 30/12/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2025/TLPT-HS ngày 30/10/2025 đối với bị cáo Hoàng Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh.

*Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn T, sinh năm 1985; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn T, xã H, tỉnh Bắc Ninh); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn K (liệt sĩ) và con bà: Phạm Thị T1, sinh năm 1959; bị cáo có vợ: Dương Thúy N, sinh năm 1987; bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 15/02/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 18 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” và 06 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”; tổng hình phạt 02 tội là 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  • + Ngày 03/8/2023 bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
  • + Ngày 17/02/2025 bị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2- Bắc Ninh) xử phạt 02 năm 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo bị khởi tố, bị tạm giam trong vụ án khác; hiện bị cáo đang bị chấp hành án phạt tù tại Trại giam Q1 - Bộ C3 về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số: 05/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 và Quyết định thi hành án số: 14/2025/QĐ-CA ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2- Bắc Ninh). (có mặt).

*Ngoài ra trong vụ án có những người tham gia tố tụng khác là bị hại Vũ Văn C; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Dương Túy N1; Người làm chứng là anh Nguyễn Văn T2, anh Nguyễn Văn Q, chị Vũ Thị H, anh Trần Văn K1 nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị và liên quan đến kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 4 năm 2022, anh Vũ Văn C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” do có hành vi trộm cắp tài sản cùng người khác vào tháng 3/2022. Đến tháng 7/2022, vụ án của anh C được chuyển sang Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là Toà án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) để xét xử. Do lo sợ khi bị xét xử sẽ bị tuyên phạt án tù giam, anh C nảy sinh ý định tìm người có quan hệ để đưa tiền, xin cho được hưởng án treo. Đầu tháng 8/2022, anh C nói chuyện với bạn là anh Nguyễn Văn T2 về việc anh C phạm tội và muốn tìm người nào có quan hệ với người trong Tòa án để xin cho hưởng án treo. Anh Tú liên hệ với em họ là Hoàng Văn T nói sự việc của anh C nêu trên, hỏi T có giúp xin cho anh C được hưởng án treo khi xét xử không, T bảo giúp được. Anh Tú thông báo cho anh C biết việc T nói có thể giúp anh C xin án treo khi xét xử vụ án và cho Tần số điện thoại của anh C là 0985.143.337 và cho anh C số điện thoại của T là 0395.861.111 để cả hai tự liên lạc với nhau trong việc xin mức án khi xét xử. Sau đó, anh C dùng điện thoại liên lạc với T nhờ T lo xin cho anh C được hưởng án treo khi Tòa án xét xử. Lúc này, bản thân T là người đã bị Tòa án xét xử hình sự, không có việc làm ổn định, để có tiền T đã nói dối anh C là xin được mức án treo cho anh C. T bảo anh C chi phí xin mức án treo hết 300.000.000 đồng, đưa trước cho T 200.000.000 đồng, còn 100.000.000 đồng khi nào xong việc thì đưa hết, anh C đồng ý. Anh C và T hẹn gặp nhau tại quán bán hàng ăn “Quê hương” ở Tổ dân phố số B, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường V, tỉnh Bắc Ninh) do anh Nguyễn Văn Q và vợ là chị Vũ Thị H (là em gái và em rể của anh C) làm chủ để giao nhận tiền lo xin mức án treo. Anh C nói lại việc đưa tiền để nhờ T xin mức án treo cho anh Q và chị H biết. Khoảng 18 giờ ngày 16/8/2022, T đi cùng anh Nguyễn Văn C1 đến quán ăn “Quê hương” như đã hẹn. Theo T khai, T chỉ nói cho anh Nguyễn Văn C1 biết đi cùng đến quán, không nói đến làm gì, khi đến quán không ngồi cùng bàn. Tại quán “Quê Hương”, anh C1, T, anh Q, chị H ngồi chung một bàn, T tiếp tục nói dối có quen biết và sẽ nhờ Bộ trưởng Bộ Q2 để xin cho anh C1 mức án treo khi xét xử vụ án nhưng phải mất 300.000.000 đồng. Anh Q bảo anh C1 chỉ đưa trước cho Tần 80.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nào lo việc xong cho anh C1 thì đưa nốt. Anh C1 và T tiếp tục nói chuyện và cả hai thống nhất, anh C1 đưa trước cho Tần 200.000.000 đồng tiền mặt, số tiền còn lại khi nào lo xong việc đưa nốt. Thỏa thuận xong, anh C1 đi rút tiền mặt để đem về quán giao cho T. Khoảng 30 phút sau, anh C1 đem tiền quay lại quán gặp T, anh Q, chị H. Anh Q bảo T viết giấy nhận tiền của anh C1 có nội dung T nhận tiền để giúp anh C1 xin án treo, nhưng T không đồng ý viết nội dung trên, chỉ đồng ý viết giấy vay tiền để làm tin thì anh C1 đồng ý. Để đề phòng trường hợp sau khi nhận tiền, T không xin được hưởng án treo anh C1 phải đi tù thì anh Q thay anh C1 đòi lại được tiền. Anh C1 bảo T viết giấy vay tiền với nội dung Tần vay của anh Q số tiền 200.000.000 đồng, nhưng thực chất là T nhận tiền của anh C1 để lo xin án treo như thỏa thuận trên. T cầm giấy bút anh Q đưa cho viết nội dung vay số tiền 200.000.000 đồng của anh Q như nêu trên, hẹn đến 30/8/2022 sẽ trả lại tiền và ký tên người vay tiền là Hoàng Văn T, ngày vay tiền 16/8/2022 rồi đưa cho anh C1. Anh C1 đưa 200.000.000 đồng tiền mặt cho T. T cầm tiền và nói dối đến khi xét xử vụ án nếu không xin được án treo cho anh C1 thì sẽ trả lại tiền cho anh C1 rồi bỏ đi khỏi quán. Nhận được tiền của anh C1, T không liên hệ với ai trong Tòa án hay người nào khác để xin mức án treo cho anh C1 khi xét xử và không nói lại cho anh C1 biết. Trước khi Tòa án xét xử sơ thẩm vụ án, anh C1 sử dụng tài khoản zalo “Vu Van C2” của anh C2 để liên hệ với tài khoản zalo “Duc Tan” của T trao đổi kiểm tra việc xin án treo cho anh C2. Khi này, T nói dối đã liên hệ xin mức án treo cho anh C2, T có nhắn tin qua zalo cho anh anh C2 là “Ok rồi” nhưng thực tế T vẫn không liên hệ với ai để xin mức án treo cho C2. Ngày 29/8/2022, anh C2 bị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là Toà án nhân dân Khu vực 2 - Bắc Ninh) tuyên phạt 02 năm 6 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi bị tuyên án, anh C2 liên lạc với T nhiều lần để đòi tiền và nói sự việc cho anh Trần Văn K1, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố S, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là xã H, tỉnh Bắc Ninh) và nhờ anh K1 đòi tiền hộ. Anh K1 gọi điện thoại cho T, khi gọi điện có bật chế độ ghi âm cuộc gọi, hỏi xin án treo cho anh C2 như thế nào thì T có thừa nhận việc nhận xin án treo cho anh C2. Sau đó, anh K1 chuyển toàn bộ file ghi âm nội dung cuộc gọi với T cho anh C2. Anh C2 tiếp tục nhiều lần nhắn tin zalo cho T để đòi lại tiền nhưng T viện hết lý do này, lý do khác, hứa xin án ở cấp phúc thẩm và không trả lại tiền cho anh C2. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được, T đã chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi nhiều lần đòi Tần trả lại tiền không được, C2 đã trình báo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của T đến Cơ quan điều tra, đồng thời giao nộp lịch sử cuộc nói chuyện qua zalo giữa C2 với Hoàng Văn T; Giấy vay tiền ngày 16/8/2022 do Hoàng Văn T viết, ký tên và file ghi âm cuộc gọi của anh K1 với T nêu trên làm căn cứ giải quyết vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 1956/KL-KTHS ngày 12/9/2024, Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận chữ viết, chữ ký trong giấy biên nhận vay tiền giữa T và anh Q đề ngày 16/8/2022 so với chữ viết, chữ ký của Hoàng Văn T là do cùng một người viết ra.

Cơ quan điều tra đã tra cứu, chủ thuê bao, lịch sử cuộc gọi số điện thoại của C2 với T; kết quả tra cứu: số điện thoại 0985.143.337 là của C2, số điện thoại 0395.861.111 là của T; từ ngày 05/8/2022 đến ngày 29/8/2022, hai số điện thoại phát sinh nhiều cuộc gọi đi, đến với nhau.

Cơ quan điều tra trích xuất nội dung file ghi âm cuộc gọi giữa anh K1 và T có nội dung về việc T nhận tiền để chạy án treo cho C2 và cho T xem nội dung; kết quả T thừa nhận nội dung trích xuất từ file ghi âm là T nói và không có ý kiến gì. Tại bản kết luận giám định số 1069/KL-KTHS ngày 19/5/2025 của Phòng K2- Công an tỉnh B kết luận: Giọng nói của người ký hiệu là “Tần” trong bản ghi nội dung cuộc hội thoại kèm theo (file ghi âm cuộc nói chuyện giữa anh K1 và T) so với giọng nói của “Hoàng Văn T” trong mẫu so sánh là của cùng một người.

Cơ quan điều tra đã làm việc với Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là Toà án nhân dân Khu vực 2 – tỉnh Bắc Ninh) về vụ án xác định không có ai tác động trong việc xét xử vụ án đối với anh C2, việc xét xử vụ án khách quan, đúng pháp luật.

Quá trình điều tra, T không thừa nhận việc được anh C2 nhờ xin, nhận tiền của anh C2 để xin mức án treo cho anh C2 khi Tòa án xét xử hành vi phạm tội của anh C2. Tần chỉ khai nhận có vay của anh Q số tiền 200.000.000 đồng nêu trên để làm ăn vì T quen biết anh Q từ khoảng năm 2016. Cơ quan điều tra đã cho T đối chất với bị hại, nhân chứng khai nhận Tần có nhận tiền của anh C2 để xin mức án treo cho anh C2 khi bị Tòa án xét xử, tuy nhiên T vẫn không thừa nhận. Căn cứ vào các chứng cứ nêu trên và kết quả điều tra vụ án có đủ căn cứ chứng minh T có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh C2 như nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Vũ Văn C yêu cầu Hoàng Văn T phải trả lại số tiền 200.000.000 đồng.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 129/CT-VKS ngày 12 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Bắc Ninh) đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh quyết định:

Căn cứ: Điểm a khoản 3 Điều 174, điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, 56, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 135, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 579, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 07 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với 02 năm 10 tháng tù của bản án số: 05/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (nay là Toà án nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh). Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 (Mười) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 06/8/2024 (ngày tạm giữ, tạm giam của bản án số: 05/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (nay là Toà án nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh) và Quyết định thi hành án số: 14/2025/QĐ-CA ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (nay là Toà án nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh).

Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải có nghĩa vụ trả cho anh Vũ Văn C 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng chẵn).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 23/9/2025, bị cáo Hoàng Văn T có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là nặng. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

*Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Hoàng Văn T trình bày: Bị cáo xác định án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên cấp sơ thẩm xét xử như vậy là nặng, bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào mới ở cấp phúc thẩm, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đề nghị HĐXX:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh
  2. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174, điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, 56, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 135, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 579, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự:

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 07 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với 02 năm 10 tháng tù của bản án số: 05/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (nay là Toà án nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh). Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 (Mười) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 06/8/2024 (ngày tạm giữ, tạm giam của bản án số: 05/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (nay là Toà án nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh) và Quyết định thi hành án số: 14/2025/QĐ-CA ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (nay là Toà án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh).

Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là hợp lệ, cần được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
  3. Hoàng Văn T là người không có việc làm ổn định, đã bị Tòa án xét xử về hình sự. Biết được anh Vũ Văn C bị khởi tố, xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng muốn xin được hưởng mức án treo khi xét xử nên T nảy sinh ý định dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của Vũ Văn C. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/8/2022, tại quán ăn “Quê hương” ở tổ dân phố số B, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường V, tỉnh Bắc Ninh); Hoàng Văn T dùng thủ đoạn gian dối, nói dối anh Vũ Văn C là T có thể xin được mức án treo khi anh C bị Tòa án xét sử sơ thẩm. Anh Vũ Văn C tin lời của T nói là thật nên đã đưa 200.000.000 đồng tiền mặt cho Tần theo yêu cầu của T để T liên hệ xin mức án treo cho anh C khi xét xử. Sau khi nhận được tiền, T không liên hệ với bất kỳ ai để xin hưởng án treo cho anh C và đã chi tiêu cá nhân hết số tiền nêu trên. Sau đó, anh Vũ Văn C bị Tòa án sơ thẩm xét xử tuyên hình phạt tù giam và anh C đã đòi Tần trả lại tiền nhưng T không trả.
  4. Quá trình điều tra bị cáo không nhận tội, tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm trong phần tranh tụng bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lợi dụng hoàn cảnh, tình trạng lo lắng của anh C khi phạm tội sợ bị kết án tù giam, bị cáo đã có hành vi gian dối hứa hẹn nói dối anh C là bị cáo có mối quan hệ có thể giúp được anh C được hưởng án treo làm cho anh C tin lời T lên đã giao cho T 200.000.000đồng, bị cáo đã nhận tiền tại quán ăn Q3 do anh Q làm chủ và viết giấy biên nhận vay tiền đứng tên anh Q. Lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm và phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng anh Nguyễn Văn T2, anh Nguyễn Văn Q cũng như các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập thể hiện: Kết quả tra cứu thông tin thuê bao, giao dịch cuộc gọi: từ 14/8/2022 đến 30/8/2022 xác định tại các bút lục từ 47 đến 107 cho kết quả: Số 0985.143.337 đăng ký tên Vũ Văn C; Số 0395.861.111 đăng ký tên Hoàng Văn T. Từ ngày 05/8/2022 đến ngày 29/8/2022 (trước ngày anh C bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”), anh C sử dụng số điện thoại 0985.143.337 gọi 15 cuộc điện thoại đến số 0395.861.111 của T. Còn T gọi 09 cuộc điện thoại đến cho anh C. Hình ảnh trích xuất zalo của anh C thể hiện cuộc trò chuyện qua zalo giữa anh C và T (tên sử dụng là “Duc Tan”) cũng như nội dung file ghi âm cuộc gọi giữa anh K1 và T, giấy vay tiền ngày 16/8/2024.
  5. Hành vi nêu trên của Hoàng Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Do vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
  6. Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hoàng Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy:
  7. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do lợi dụng vào hoàn cảnh, tâm lý lo sợ bị tù tội muốn được hưởng án treo khi Tòa án xét xử đối với người bị hại là anh Vũ Văn C nên bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của anh Vũ Văn C, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý nên cần xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội này.
  8. Xét về nhân thân bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, từng bị Tòa án xét xử về tội “Chống người thi hành công vụ”, “Hủy hoại tài sản” và “Cố ý gây thương tích”, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”, nhưng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.
  9. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  10. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà bị cáo đã nhận thức và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo có bố đẻ là liệt sỹ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo đã tác động tới vợ là chị Dương Thúy N bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 50.000.000đồng, tại phiên toà được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt do vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trên cho bị cáo.
  11. Tuy nhiên, bị cáo thực hiện tội phạm thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, xét thấy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
  12. Bản án sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét xử bị cáo với mức hình phạt như trên là có căn cứ và đúng pháp luật, không nặng.
  13. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Hoàng Văn T không xuất trình được tài liệu chứng cứ nào mới nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo.
  14. Do bị cáo Hoàng Văn T đang chấp hành án của bản án khác mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nên căn cứ khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
  15. Từ phân tích nêu trên, HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T3, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án khu vực 2 – Bắc Ninh.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh.
  2. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174, điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, 56, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 135, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 579, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù của bản án số: 05/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (nay là Toà án nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh). Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 (Mười) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 06/8/2024 (ngày tạm giữ, tạm giam của Bản án số: 05/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (nay là Toà án nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh) và Quyết định thi hành án số: 14/2025/QĐ-CA ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (nay là Toà án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh).

  1. Án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Văn phòng - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 2 – Bắc Ninh;
  • - TAND khu vực 2 – Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 2 – Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2025/HS-PT ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 140/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 30/12/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2025/TLPT-HS ngày 30/10/2025 đối với bị cáo Hoàng Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger