|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 140/2025/HS-PT Ngày 23-12-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Chiên
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Vũ, ông Phạm Tuấn Anh
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thuý Anh - Thư ký Toà án Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 106/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Lê Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Văn T - sinh năm 1987 tại tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Tổ B, khu Q, phường V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S - sinh năm 1960 (Đã chết); con bà Nguyễn Thị Q - sinh năm 1961; vợ: Bùi Thị T1 - sinh năm 1991; con: Có 02 con (Con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Tạm giam từ ngày 26/12/2024 đến ngày 06/5/2025 thì thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Bảo lĩnh”. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú.
(Bị cáo có mặt)
Người bị hại: Anh Phạm Xuân T2 - sinh năm 1992
Địa chỉ: Khu B, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Nay là xã B, tỉnh Phú Thọ).
(Anh T2 đề nghị xét xử vắng mặt)
Ngoài ra còn có chị Bùi Thị T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 18/05/2024, tại xưởng sản xuất 1 của Công ty TNHH C1 ở khu Công nghiệp T, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Nay là khu Công nghiệp T, phường N, tỉnh Phú Thọ), do mâu thuẫn trong quá trình làm việc, Lê Văn T và anh Phạm Xuân T2 xảy ra to tiếng cãi nhau, T cầm chiếc mũ công nhân bằng nhựa màu xanh đang đội trên đầu ném về hướng của anh T2 nhưng không trúng, cả hai lao vào dùng tay đấm vào mặt của nhau, T bị 01 (Một) vết xước 02cm bên gò má phải, 01 (Một) vết xước chảy máu tại sống mũi kích thước 01cm, còn anh T2 không bị thương tích gì. Sau đó T và T2 được mọi người trong xưởng can ngăn nên sự việc đã dừng lại. Khi hết giờ làm, T hẹn anh T2 ra ngoài Công ty để giải quyết mâu thuẫn thì anh T2 đồng ý. Sau khi ra khỏi Công ty, T đến cửa hàng tạp hoá của bà Phùng Thị Thanh M một con dao dài 27 cm, có phần chuôi dao bằng nhựa màu đen dài 10cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 17cm, đầu mũi dao nhọn rồi cất giấu trong túi quần bên trái, với mục đích nếu bị anh T2 tấn công thì sẽ sử dụng để chống trả. Khoảng 16 giờ cùng ngày, T quay về khu vực cổng Công ty C1 thì gặp anh T2 nên bảo anh T2 đi ra khu vực bên ngoài để nói chuyện. Anh T2 đồng ý và đi theo T ra khu vực bãi đất trống bên cạnh đường T thuộc đội D, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường N, tỉnh Phú Thọ). Ngoài ra còn có anh Nguyễn Kiên C, anh Nguyễn Ngọc L, anh Hà Huy M1, anh Tạ Ngọc Đ, anh Đặng Chung K, anh Nguyễn Hào P, anh Nguyễn Văn H đều là công nhân làm cùng xưởng sản xuất với T và anh T2 tại Công ty C1 đi cùng. Đến nơi, T và anh T2 dựng xe máy bên lề đường để vào khu vực đất trống nói chuyện. Quá trình nói chuyện, T và anh T2 hòa giải với nhau và thống nhất không còn mâu thuẫn với nhau nữa, sau đó cả hai đi ra khu vực để xe để đi về. Khi T đi đến khu vực vỉa hè của đường T thì anh Nguyễn Kiên C nói với T: “Chúng mày đánh nhau chỉ có mõm”, T trả lời: “Một với một thì có gì đâu” đồng thời tiến lại sát với C. C nói: “Mày thích gì ?”, đồng thời tay phải nắm vào cổ tay trái của T, tay trái đấm 01 phát vào mặt T. Lúc này tay trái của T vẫn đang giữ con dao trong túi quần bên trái để không lộ con dao ra ngoài. Anh C thấy vậy đã dùng hai tay giữ chặt hai cổ tay của T, hai người đứng đối diện nhau, giằng co, xô đẩy với nhau. Trong quá trình giằng co, T dùng tay trái rút con dao cất giấu trong túi quần bên trái ra, mũi dao hướng xuống mặt đường, lưỡi dao hướng vào cẳng tay trái trái của T. Thấy T rút con dao ra, anh C dùng hai tay nắm giữ chặt cổ tay trái của T và cả hai tiếp tục giằng co, xô đẩy nhau. Quá trình giằng co với T, anh C bị ngã ngửa về phía sau, phần lưng nằm dưới mặt đường, hai tay vẫn nắm chặt tay trái của T và kéo T theo hướng ngã của mình, anh C co chân phải lên đạp vào người T, đồng thời lúc này hai tay anh C vẫn nắm giữ cổ tay trái đang cầm dao của T thì phần lưỡi dao kề sát vào khoeo chân của anh C, anh C đạp trúng vào người của T làm T bị lùi về phía sau, anh C buông tay của T ra đồng thời khi co
chân phải lại thì phần khoeo chân phải của anh C trúng vào phần lưỡi dao T đang cầm ở tay trái khiến anh C bị 01 vết thương ở khoeo chân phải. Sau khi T bị anh C đạp lùi về phía sau, anh T2 đã lao vào từ phía sau của T, dùng hai tay ôm vào người T khiến T bị chúi đầu xuống đất, tay trái vẫn cầm con dao như lúc trước. T nhìn được phần chân của người phía sau mình và nhận ra đó là anh T2 nên T xoay người từ trái sang phải, đồng thời vung tay trái đang cầm dao vòng ra phía sau từ trái qua phải, từ trên xuống dưới về phía anh T2 làm phần mũi dao và lưỡi dao trúng vào vùng cổ bên phải của anh T2, gây ra 01 (Một) vết thương ở vùng cổ bên phải của anh T2, chảy nhiều máu. Anh C tiếp tục lao vào giằng co với T và quật T ngã xuống đường. T thoát ra được và chạy trên đường T về hướng đi đội 6, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ cách khoảng 20 mét thì dừng lại ngồi xuống và bỏ con dao trên tay trái xuống bãi cỏ ven đường. Sau đó, T quay lại nơi xảy ra sự việc thì được biết anh T2 bị thương được đưa đi Bệnh viện cấp cứu, T đã đến Công an xã T khai báo hành vi vi phạm của bản thân.
Hậu quả:
Anh T2 bị thương ở vùng cổ bên phải được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P, sau đó chuyển đến Bệnh viện H1 tại thành phố Hà Nội để điều trị; anh C bị thương ở khoeo chân bên phải, tự đi vào bệnh viện H1 tại thành phố V để điều trị. T bị 01 (Một) vết xước kích thước 2cm bên gò má phải, 01 (Một) vết xước chảy máu ở sống mũi kích thước 01cm; 01 (Một) vết thương chảy máu ở lòng bàn tay trái kích thước 2 cm, 01 (Một) vùng xước ở khuỷ tay trái kích thước 2cm x 1cm.
Ngày 14/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với anh Nguyễn Kiên C. Anh C đã có đơn kiên quyết từ chối đi giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Ngày 19/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra quyết định dẫn giải, nhưng anh C không chấp hành quyết định dẫn giải và cam kết tự chịu trách nhiệm về tính mạng, sức khoẻ của bản thân.
Ngày 22/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với anh Lê Văn T. T đã có đơn kiên quyết từ chối đi giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Ngày 05/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra quyết định dẫn giải nhưng T không chấp hành quyết định dẫn giải và cam kết tự chịu trách nhiệm về tính mạng, sức khoẻ của bản thân.
Ngày 05/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với anh Phạm Xuân T2. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 135/KLTTCT-TTPY ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh P kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Phạm Xuân T2 là 34% (Ba mươi bốn phần trăm).
- Cơ chế hình thành thương tích:
- + Vết sẹo vùng cổ bên phải; Tổn thương vận động dây thần kinh mũ chi trên bên phải; Tổn thương tĩnh mạch cảnh bên phải: Do tác động của vật sắc gây nên.
- + Vết sẹo mặt trong đùi phải: Do bác sỹ làm phẫu thuật để điều trị”.
Căn cứ vào đơn đề nghị giám định bổ sung của anh Phạm Xuân T2, ngày 10/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với anh Phạm Xuân T2. Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 234/KLTTCT-TTPY ngày 18/12/2024 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh P kết luận: “Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Phạm Xuân T2 sau khi giám định bổ sung là 39% (Ba mươi chín phần trăm).
Cơ chế hình thành thương tích anh Phạm Xuân T2 tại bản giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 135/KLTTCT-TTPY ngày 13/8/2024, của Trung tâm pháp y đã trả lời Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V. Cơ chế hình thành vết sẹo cổ phải, cánh tay phải, cẳng chân: Do bác sỹ làm phẫu thuật để điều trị.”
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân dân khu vực 1 - Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; khoản 1, khoản 4 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 584; Điều 585; khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự. Điểm a, f, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T3 04 (Bốn) năm 06 (S1) tháng tù, nhưng được trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2024 đến ngày 06/5/2025. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định giải quyết trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 25 tháng 7 năm 2025, bị cáo Lê Văn T làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo ngoài xã hội.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Văn T không thay đổi, bổ sung hoặc rút đơn kháng cáo. Bị cáo trình bày: Bị cáo gây thương tích cho người khác là phạm tội nên bị cáo nhất trí về tội danh như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Nhân thân của bị cáo tốt, bị cáo đã bồi thường xong cho người bị hại, thành khẩn khai báo, sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo ra tự thú, người bị hại cũng có lỗi là trong khi bị cáo và anh C xẩy ra mâu thuẫn thì bị hại đã ôm
người bị cáo nên bị cáo mới dùng dao đâm người bị hại, người bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 04 năm 06 tháng tù là nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội. Ngoài lý do kháng cáo này, bị cáo không có lý do kháng cáo nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Phú Thọ về hình phạt đối với bị cáo Lê Văn T.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Khi Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ xét xử và tuyên án thì Lê Văn T có mặt. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Lê Văn T đã kháng cáo bản án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Lê Văn T kháng cáo đúng thời hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi thực hiện của bị cáo: Bị cáo Lê Văn T khai nhận hành vi thực hiện phạm tội như sau:
Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 18/5/2024 tại xưởng sản xuất 1 của Công ty TNHH C1 ở khu Công nghiệp T, T và anh T2 xẩy ra mâu thuẫn nên được mọi người can ngăn. Khi hết giờ làm việc, T đến cửa hàng T4 mua một con dao dài 27cm, có mũi nhọn rồi quay lại Công ty. Khi đến cổng Công ty thì gặp anh T2 nên T bảo anh T2 ra khu vực bên ngoài Công ty để nói chuyện. Khi đi thì có anh C và một số người đi cùng là những người cùng làm với xưởng sản xuất của T và anh T2. Qua nói chuyện thì T và anh T2 đã hòa giải được với nhau nên không còn mâu thuẫn nữa, nhưng anh C đã kích bác T nên xẩy ra mâu thuẫn giữa T và anh C, dẫn đến đánh nhau. Trong quá trình T và anh C đánh nhau thì anh T2 vào căn ngăn, T đã dùng dao đâm vào phần cổ bên phải của anh T2. Hậu quả anh T2 bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ là 39%.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, Tòa án đã xét xử đúng người, đúng tội nên bị cáo không kháng cáo về tội danh.
[3] Về nội dung kháng cáo: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ đã xử phạt bị cáo Lê Văn T 04 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Văn T không đồng ý bản án sơ thẩm nên kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo ngoài xã hội.
Xét thấy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là đã bồi thường cho người bị hại; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo ra đầu thú. Bị cáo cho rằng người bị hại cũng có lỗi là không có căn cứ, vì khi bị cáo và anh C xẩy ra mâu thuẫn thì bị cáo rút con dao từ trong túi quần ra để đâm anh C, anh T2 nhìn thấy bị cáo cầm dao nên vào can ngăn thì bị cáo dùng dao đâm anh T2 nên anh T2 không có lỗi đối với bị cáo. Ý chí của bị cáo trước khi thực hiện hành vi phạm tội là mua con dao nhọn dài 27cm, nếu có ai đánh bị cáo thì bị cáo sử dụng để đâm người đó. Khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đã dùng hung khí nguy hiểm, tỷ lệ % tổn thương cơ thể của người bị hại là 39% nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đủ điều kiện được áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 04 (Năm) năm 06 (S1) tháng tù là phù hợp với tính chất vụ án.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào so với cấp sơ thẩm, lý do kháng cáo đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng cho bị cáo nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Vì vậy, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ về hình phạt đối với bị cáo.
[3] Án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ về giải quyết vụ án là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 22/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ về hình phạt đối với bị cáo Lê Văn T.
2. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 04 (Bốn) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 26/12/2024 đến ngày 06/5/2025. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm c khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Các quyết khác của bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 22/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Khắc Chiên |
7
Bản án số 140/2025/HS-PT ngày 23/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 140/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
