Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2025/DS-PT

Ngày: 24 - 12 - 2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể

Các Thẩm phán:

Bà: Hà Thị Thanh Hương

Ông Nguyễn Đức Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên và bà Nguyễn Lệ Huyền.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: bà Trần Thị Tâm -

Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 26 tháng 11 năm 2025 và các ngày từ ngày 18 đến ngày 24 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2025/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DSST ngày 28 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 6-Nghệ An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 184/2025/QĐPT-DS ngày 24 tháng 10 năm 2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 768a/QĐPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2025 và Thông báo về mở lại phiên tòa số 1532/TB-TA ngày 11 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  1. Bà Phạm Thị L, sinh năm, 1963; Nơi cư trú: Xóm T, xã Q, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  2. Người đại diện theo uỷ quyền của bà L: chị Phan Thị N (sinh năm 1990), chị Đinh Thị S (sinh năm 1990); Địa chỉ: L, tầng A, chung cư T, khu Đô thị M, phường T, tỉnh Nghệ An. Chị N có mặt, chị S vắng mặt.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L: chị Trần Thị Thùy D và chị Nguyễn Thị N1 – Luật sư thuộc Văn phòng L3 và cộng sự - Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.

  3. Ông Nguyễn Văn H (chết ngày 17/6/2024):
  4. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H:

  1. 2.1. Bà Phạm Thị L.
  2. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn E, xã E (tức xã E, huyện E cũ), tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  3. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Ấp Đ, T (huyện T cũ), tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
  4. Chị Nguyễn Thị N2, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Xóm T, xã Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  5. Chị Nguyễn Thị N3, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Xóm T, xã Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  6. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Xóm T, xã Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  7. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Xóm T, xã Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  8. Cháu Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 2010; Nơi cư trú: Xóm T, xã Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt. Người đại diện theo pháp luật của cháu Tường V: bà Phạm Thị L (mẹ đẻ).

Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị T1, chị Nguyễn Thị N3, chị Nguyễn Thị N2, chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị M: bà Phạm Thị L.

Bị đơn: anh Thái Doãn H2, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1983; Địa chỉ: xóm Đ, xã Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1959; Địa chỉ: xóm Đ, xã Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Q: anh Trần Hữu L1, sinh năm 1973; Địa chỉ: xóm N, xã Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

  • - Anh Thái Doãn H3, sinh năm 1984; Địa chỉ: xóm Đ, xã Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • - Chị Thái Thị P, sinh năm 1988; Địa chỉ: xóm Đ, xã Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • - Chị Thái Thị Q1, sinh năm 1986; Địa chỉ: xóm H, xã T, tỉnh Nghệ An. Nơi tạm trú: nhà trọ Võ Thị X, số B, tổ I khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
  • - Chị Thái Thị H4, sinh năm 1992; Địa chỉ: xóm Đ, xã N (huyện T cũ), tỉnh Nghệ An. Nơi tạm trú: tổ A khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt.

2

Người đại diện theo ủy quyền của chị Q1, chị H4: anh Thái Doãn H3.

* Người kháng cáo: anh Thái Doãn H2.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Tháng 12/2020, ông H bà L làm đơn yêu cầu UBND xã Q hòa giải tranh chấp đất lâm nghiệp với anh Thái Doãn H2 (con trai ông Thái Doãn H5, bà Nguyễn Thị Q) tại khu vực Đ (thuộc địa bàn 2 xã Q và K, huyện Y, tỉnh Nghệ An) nhưng hòa giải không thành. Năm 2021, ông H bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh H2 phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 2596m² thuộc thửa đất số 207, tờ bản đồ số 01 (xóm T, xã Q), thu hoạch các cây cối trên phần đất tranh chấp và bồi thường thiệt hại về lợi tức trong thời gian lấn chiếm đất. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn trình bày: ông bà được nhà nước giao đất lâm nghiệp trên khu vực Động Vung từ năm 1983 với diện tích là 22443,6m², được cấp Lâm bạ xanh, không nhớ cấp thời gian nào nhưng nay đã mất nên không còn để giao nộp cho Tòa án. Thửa đất của ông bà có ranh giới giáp ranh địa giới hành chính của xã K (nay sát nhập thành xã Q), đường biên kề sát với đất của ông H5 – bà Q (thửa 496). Năm 2005 – 2006, đo bản đồ địa chính, ông bà được quy chủ đối với thửa đất rừng số 207, tờ bản đồ số 01 diện tích 22443,6m².

Năm 2003, ông bà trồng dứa trên ½ thửa đất (gồm cả phần đang tranh chấp), năm 2006 trồng tràm trên ½ đất còn lại. Sang năm 2008, ông bà thu hoạch toàn bộ dứa, sắn trên đất thì bị anh H2 lấn chiếm đất trồng keo. Ông bà nhiều lần yêu cầu anh H2 dừng việc lấn chiếm, trả lại đất nhưng anh H2 không những không trả mà còn lấn chiếm nhiều hơn. Năm 2010, UBND xã Q (cũ) hòa giải hai bên nhưng không thành. Năm 2020, anh H2 chặt cây, đốt rừng trồng lứa keo mới làm cháy sang cây của ông bà nên đưa 5.000.000 đồng sang để bồi thường nhưng ông bà chưa đồng ý lấy mà phải chờ giải quyết xong tranh chấp đất đai. Ông bà giao nộp các tài liệu nộp thuế đất từ năm 2013 đến 2018 để chứng minh gia đình đã nộp thuế đối với toàn bộ thửa đất số 207 (trong đó có cả diện tích đất tranh chấp với bị đơn).

Do bà L không nắm rõ ranh giới thực địa nên ngày 14/8/2023, khi Tòa án huyện Y xem xét thẩm định tại chỗ (lần đầu), bà L chỉ sai mốc giới dẫn đến phần đất tranh chấp chỉ có 1485,4m². Ông bà đã sửa đổi đơn khởi kiện yêu cầu trả lại diện tích đất 8287,6m² theo Bản đồ địa chính và xin rút yêu cầu bồi thường lợi tức (Tòa án sơ thẩm đã đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện này).

Ngày 17/6/2024, ông H chết. Cha ông H là cụ Nguyễn Văn M1 (chết năm 2016), mẹ là cụ Đặng Thị Đ (chết năm 2015). Ông H bà L có 07 người con là Nguyễn Thị T; Nguyễn Thị T1; Nguyễn Thị N2; Nguyễn Thị N3; Nguyễn Thị H1; Nguyễn Thị M và Nguyễn Thị Tường V. Những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông H nhất trí với yêu cầu khởi kiện.

* Bị đơn anh Thái Doãn H2 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía bị đơn (bà Nguyễn Thị Q và người đại diện theo ủy quyền là anh Trần

3

Hữu L1, chị Nguyễn Thị T2, anh Thái Doãn H3, chị Thái Thị Q1, chị Thái Thị P, chị Thái Thị H4) trình bày: năm 1989, UBND xã Đ (sau này tách thành K và Đ) giao cho cha mẹ bị đơn (ông Thái Doãn H5, bà Nguyễn Thị Q) bảo vệ, chăm sóc và khai thác củi tại Đ, giáp với địa giới xã Q. Trên Động Vung thuộc địa phận xã Q cũng có gia đình cụ M1 (cha ông H) khoanh nuôi rừng giáp ranh với đất của ông H5 bà Q; giữa 2 bên có đường phân thủy từ đỉnh Động xuống chân động; năm 1991, hai gia đình trồng 2 hàng cây để làm bờ lô (ông H5 có trồng 01 dãy xà cừ còn ông H trồng hàng cây bạch đàn). Tuy nhiên, năm 2020 để trồng keo anh H2 chặt hàng xà cừ + bạch đàn; ông H chặt bạch đàn (vào năm 2023 vẫn còn 01 cây bạch đàn nhưng sau đó, ông H đã chặt hết); hiện vẫn còn các gốc cây trên thực địa.

Năm 1992, chính quyền đo đạc lập Bản đồ lâm nghiệp 1992 và tiến hành bàn giao cho gia đình bị đơn trên thực địa để sử dụng. Sang năm 1996, ông H5 (đã chết năm 2014) được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất lâm nghiệp số 110, tờ bản đồ số 01 diện tích 15000m² (Bản đồ địa chính hiện hành ghi nhận số thửa 496, tờ bản đồ số 01, xóm Đ, xã K). Năm 2003, thực hiện chủ trương trồng dứa, gia đình trồng dứa ½ đất phía dưới và đến năm 2007 thì trồng keo, tràm trên toàn bộ thửa đất. Từ khi sử dụng đất đến nay, ranh giới đất vẫn ổn định, rõ ràng và không có tranh chấp. Mãi đến đầu năm 2021 ông H bà L tố cáo gia đình bị đơn lấn chiếm đất trong khi trước đó, 2 bên không xảy ra mâu thuẫn gì. Bị đơn khẳng định, việc sử dụng đất của gia đình là đúng theo kết quả đo đạc giao đất giao rừng năm 1992 và bản đồ phân định địa giới hành chính xã Q - Đ năm 1996 do UBND huyện Y phê duyệt (bản đồ đo theo chỉ đạo 364 của UBND tỉnh N). Vì vậy, bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Tòa án căn cứ vào địa giới hành chính năm 1996 để giải quyết vụ án.

Tại Bản án sơ thẩm số 18/2025/DS-ST ngày 28/4/2025 của Tòa án nhân dân nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 68; Điều 74; Điều 91; Điều 92; Điều 184; khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 244; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 163; Điều 166 Bộ luật dân sự;

Căn cứ các Điều 100; Điều 102; Điều 105; Điều 166; Điều 170; Điều 179; Điều 202; Điều 203 và Điều 195 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: Yêu cầu Tòa án buộc ông Thái Doãn H2 phải trả lại cho vợ chồng nguyên đơn diện tích đất đã sử dụng chồng lấn (lấn chiếm) là 8.287,6 m² và Yêu cầu Tòa án buộc ông Thái Doãn H2 phải di dời, thu hoạch toàn bộ tài sản, cây cối trên phần diện tích đất

4

đã lấn chiếm.

Buộc ông Thái Doãn H2 phải trả cho hộ gia đình bà Phạm Thị L diện tích đất đã sử dụng chồng lấn (lấn chiếm) là 8.287,6 m² tại thửa đất số 207, tờ bản đồ 01, diện tích 22.443,6 m², có địa chỉ tại: Xóm T, xã Q, huyện Y, tỉnh Nghệ An có tứ cận như sau:

  • Phía Đông giáp với đường địa giới Hành chính giữa hai xã Đ (nay là xã K) và xã Q và giáp với thửa đất số 496, tờ bản đồ 01 được cấp cho hộ ông Thái Văn H6 (T) và bà Nguyễn Thị Q.
  • Phía Tây giáp phần còn lại của thửa đất số 207, tờ bản đồ 01 của hộ nguyên đơn;
  • Phía Nam giáp thửa đất số 248 và thửa đất số 249 thuộc xã Q.
  • Phía Tây Bắc thửa đất số 208, thuộc xã Q.

(Chi tiết thi hành theo sơ đồ hiện trạng thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y, tỉnh Nghệ An thực hiện và xác nhận đề ngày 31/12/2023 kèm theo).

Buộc ông Thái Doãn H2 phải di dời hoặc thu hoạch toàn bộ số cây K, cây cối khác và tài sản khác (nếu có) gắn liền phần đất tranh chấp để trả lại diện tích đất đã sử dụng chồng lấn (lấn chiếm) là 8.287,6 m² cho hộ gia đình bà Phạm Thị L.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đứng về phía bị đơn đều phải có nghĩa vụ chấp hành bản án.

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án buộc ông Thái Doãn H2 phải bồi thường thiệt hại về lợi tức cho Nguyên đơn trong thời gian đã lấn chiếm đất.
  2. Về án phí và chi phí tố tụng:
    • - Về chi phí giám định: Ông Thái Doãn H2 phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản tranh chấp và phải trả cho bà Phạm Thị L số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ. Xác nhận bà Phạm Thị L đã thanh toán xong toàn bộ số tiền chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản.
    • - Án phí: Ông Thái Doãn H2 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn (bà Phạm Thị L) số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010977 ngày 10/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo, lãi suất chậm thi hành án và chế định thi hành án dân sự cho các đương sự.

Ngày 08/5/2025 bị đơn anh Thái Doãn H2 nộp Đơn kháng cáo toàn bộ bản

5

án, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm đồng thời giao nộp bản sao Bản đồ giao đất lâm nghiệp xã Q. Quá trình xét xử phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu làm rõ việc Tòa án cấp sơ thẩm sử dụng sai đoạn phân định ranh giới trong Quyết định 217/QĐ.UB ngày 30/12/1996 của UBND huyện Y (nhầm từ đoạn 10 sang đoạn 11) để xét xử và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ do Tòa án phúc thẩm thực hiện ngày 11/12/2025 xác định: phần đất tranh chấp bà L định vị trên thực địa có diện tích 7544,1m² thuộc phía Đông thửa đất số 207; trên đất tranh chấp có các cây keo do bị đơn trồng từ năm 2020; phân định giữa khu vực tranh chấp với phần đất bà L trồng keo là một rãnh dẫn nước có chiều dài 207,22m kéo từ đỉnh Động Vung xuống chân Động; phía Đông rãnh có 01 gốc bạch đàn của bà L ông H đường kính 0,4m; phía Tây rãnh có 01 hàng gồm 07 gốc xà cừ (có gốc đã mọc cành lá mới) do bị đơn cắt năm 2020; phía Bắc phần đất tranh chấp có 01 gốc bạch đàn 0,45m bị đơn cắt từ năm 2020.

Tòa án thu thập lời khai của ông Phan Lệ S1 và ông Nguyễn Thế T3 xác định được thông tin: ông S1 và ông T3 (hộ dân thuộc xóm T, xã Q) là những người được nhà nước giao đất giao rừng năm 1995 trên Động V, vị trí đất của 2 ông được giao là ở giữa đất nguyên đơn và bị đơn nhưng chưa nhận trên thực địa và cũng chưa bao giờ sử dụng. Hiện ông S1 và ông T3 không yêu cầu gì đối với bị đơn.

Tại phiên tòa ngày 18/12/2025, nguyên đơn đề nghị tạm dừng phiên tòa để hai bên thảo luận, tiến hành gặp gỡ ông S1, ông T3 tìm phương án hòa giải vì nguyên đơn cũng mong muốn có một phần quyền lợi trong diện tích đất tranh chấp nhưng bị đơn không đồng ý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm về kháng cáo như sau: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308; Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án dân sự sơ thẩm, giao cho Tòa án nhân dân khu vực 6-Nghệ An xét xử sơ thẩm lại. Bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.

Ngày 23/12/2025, trong thời gian Nghị án, bà L mời chị Trần Thị Kim D1 và Nguyễn Thị N1 – luật sư thuộc Văn phòng L3 và cộng sự - Đoàn Luật sư thành phố H – làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Chị D1, chị N1 giao nộp Văn bản Giấy chứng thực (không đề ngày tháng mang tên ông Bùi Trọng T4) và bản photocopy Giấy xác nhận của ông Nguyễn Thế L2. Bà L trình bày, những văn bản này bà có được sau phiên tòa ngày 18/12/2025. Trong văn bản mang tên ông T4 có nội dung khẳng định việc ông H - bà L đã được cấp bìa đỏ đất rừng nhưng đã được vận động thu hồi để làm thủ tục vay vốn ngân hàng;

6

trong văn bản photocopy mang tên ông L2 khẳng định việc gia đình ông H đã sử dụng đất lâm nghiệp lâu dài ở khu vực dưới đập Lội (khe C), có nộp thuế và hoa lợi rừng nhưng không xác định cụ thể diện tích, vị trí đất. Phía nguyên đơn yêu cầu tạm ngừng phiên tòa để triệu tập ông T4 (người giữ bìa đất), ông S1, ông T3 (người được giao đất) tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bị đơn không chấp nhận và cho rằng các tài liệu của nguyên đơn giao nộp ngày 23/12/2025 không có tính pháp lý, không chứng minh được nội dung tranh chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn anh Thái Doãn H2 được nộp trong thời hạn kháng cáo (ngày 12/5/2025) theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của anh H2 theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo:

[2.1]. Tại Đơn khởi kiện đề ngày 20/10/2021 và năm 2022, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị L yêu cầu Tòa án buộc bị đơn anh Thái Doãn H2 trả lại 2596m² đất lấn chiếm thuộc thửa số 207, tờ bản đồ số 01 tại xóm T, xã Q (tức xã Q, huyện Y cũ), tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, khi Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành việc xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/8/2023, nguyên đơn xác định khu vực đất tranh chấp trên thực địa có diện tích là 1485,4m². Ngày 14/5/2024, nguyên đơn sửa đổi Đơn khởi kiện đồng thời tại phiên tòa sơ thẩm yêu cầu bị đơn trả diện tích đất tranh chấp là 8287,6m² (dựa trên số liệu đo đạc của Bản đồ địa chính hiện hành). Vào ngày 11/12/2025, Tòa án phúc thẩm đã thực hiện việc xem xét thẩm định tại chỗ lại phần diện tích đất tranh chấp và trên thực địa, bà L xác định lại phần đất tranh chấp có diện tích 7544,1m². Theo định vị của nguyên đơn thì phần đất tranh chấp thuộc phía Đông của thửa đất số 207.

Như vậy, cùng là nguyên đơn (bà L) mà đã có sự thay đổi số liệu diện tích đất tranh chấp đến lần thứ tư, mỗi lần thay đổi đều dẫn đến sự dịch chuyển ranh giới đất sang phía Đông (về phía đất của bị đơn) với biên độ sai lệch rất lớn (xấp xỉ 5,5 lần). Điều này chứng tỏ nguyên đơn không biết rõ lô đất lâm nghiệp gia đình được nhà nước giao sử dụng có mốc giới về phía Đông ở đâu. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ dựa vào ranh giới thể hiện tại Bản đồ địa chính mà không căn cứ vào thực địa tranh chấp để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở.

[2.2]. Nguyên đơn trình bày năm 2008 gia đình ông H6 bắt đầu lấn chiếm và đến năm 2010 đã được UBND xã hòa giải không thành nhưng nguyên đơn không có tài liệu chứng minh sự kiện tranh chấp đã diễn ra vào năm 2008; bị

7

đơn xác định tranh chấp xảy ra bắt đầu từ năm 2021 (qua xác minh tại UBND xã Q cũng không có dữ liệu hòa giải nào giữa 2 gia đình trước năm 2021). Ngoài ra, theo nguyên đơn, trước khi tranh chấp, ông bà chỉ trồng dứa, không trồng cây cối nào khác trên đất nhưng tại thực địa, ngoài lứa keo bị đơn mới trồng năm 2020 còn có một hàng 07 gốc cây xà cừ giáp với khu vực gia đình bà L đang trồng keo và 01 gốc bạch đàn có đường kính 0,45m nhưng bà L không biết ai chủ sở hữu. Năm 2020, anh H2 chặt bạch đàn, xà cừ mà không có tổ chức, cá nhân nào tranh chấp quyền sở hữu nên căn cứ vào Điều 184 của Bộ luật Dân sự thì anh H2 được suy đoán là có quyền sở hữu những tài sản này đồng thời chứng minh được việc trước đó gia đình anh H2 đã chiếm hữu liên tục, công khai đối với đất tranh chấp.

Như vậy, ngoài lời trình bày ra, nguyên đơn không có tài sản trên đất hoặc tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh là đã từng có khoảng thời gian cụ thể nào trong quá khứ trực tiếp sử dụng đất tranh chấp trước khi gia đình bị đơn sử dụng trồng cây lấy gỗ.

[2.3]. Căn cứ vào Bản Thống kê tổng hợp giao đất giao rừng xóm T, xã Q năm 1999 và Bản đồ giao đất lâm nghiệp xã Q (do UBND xã V - xã được sát nhập từ 3 xã M, T, T - cung cấp) thì lô đất số 53 (mang tên ông Nguyễn Thế T3, diện tích 1,08ha) là lô đất giáp với ranh giới giữa 2 xã Đ (được tách ra thành xã K và Đ) và Quang T5 (được tách ra thành xã Q và T từ năm 1999). Ông T3 cũng thừa nhận, vào khoảng năm 1995, ông được Nhà nước giao đất rừng trên Động Vung vị trí nằm giữa đất ông H6 (cha bị đơn) và đất cụ M1 (cha nguyên đơn) nhưng sau đó, ông có nghe nói rằng phần đất của ông thuộc về xã K (Đ cũ) nên ông không lên nhận bàn giao đất cũng không canh tác gì và sau đó bị ông H6 (cha bị đơn) lấn chiếm. Kế tiếp bên cạnh lô đất số 53 về phía xã Q là lô đất số 54 (mang tên ông Phan Lệ S1, diện tích 0,89ha) rồi mới đến lô đất số 55 của nguyên đơn (mang tên Nguyễn H, diện tích 1,33ha). Như vậy, căn cứ vào kết quả giao đất giao rừng năm 1999, lô đất của nguyên đơn và bị đơn được nhà nước giao không liền kề nhau mà bị ngăn cách bởi 2 lô đất 53+54 tổng diện tích 1,97ha (19.700m²). Tuy nhiên, khi đo đạc Bản đồ địa chính (năm 2006) đã định vị thửa đất thửa 207 của nguyên đơn có ranh giới phía Tây là giáp địa giới hành chính 2 xã K - Q, diện tích 22443,6m² nhưng không có hồ sơ nhập các lô đất lâm nghiệp số 53,54,55 (theo kết quả xác minh tại UBND xã Q ngày 11/12/2025); ông T3, ông S1 đều cho rằng đất của các ông đã bị gia đình bị đơn lấn chiếm nhưng chưa đòi lại; nguyên đơn xác định không có sự việc nhận chuyển quyền sử dụng đất từ người thứ 3 (ông T3, ông S1). Do đó, việc thống kê diện tích năm 2005 và lập Bản đồ lâm nghiệp năm 2006 quy chủ cho ông H bà L sử dụng toàn bộ thửa 207 diện tích 22443,6m² là không chính xác và không phải là căn cứ để chứng minh nguyên đơn đã được nhà nước giao quyền chủ sử dụng hợp pháp của toàn bộ thửa đất số 207 (trong đó có phần diện tích đất tranh chấp).

[2.4]. Nguyên đơn cho rằng, gia đình đã được cấp Sổ lâm bạ (xanh) nhưng không biết cấp năm nào, đã bị thất lạc. Tòa án cấp sơ thẩm xác minh tại UBND

8

huyện Y, UBND xã Q nhưng không có bất kỳ tài liệu nào chứa đựng dữ liệu về cấp Lâm bạ cho các hộ dân (gồm ông H bà L) đồng thời khẳng định nguyên đơn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án cấp phúc thẩm đã trực tiếp kiểm tra, xác minh các loại sổ sách (Sổ địa chính, Sổ cấp Giấy và các loại sổ sách khác) tại UBND xã Q nhưng cũng không có thông tin về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại căn cứ vào thông tin Hạt kiểm lâm huyện Y cung cấp ngày 25/4/2025 (Kiểm lâm là cơ quan không có quyền quản lý nhà nước về đất đai, không có quyền cấp lâm bạ hay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và lời khai của nguyên đơn để cho rằng ông H bà L đã được nhà nước cấp lâm bạ, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích thửa 207 (đã gồm cả diện tích đất tranh chấp) là không đúng. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xuất trình lời chứng của ông Bùi Trọng T4 về việc ông H đã được cấp bìa đỏ đất rừng (không phải là Lâm bạ xanh như trình bày của nguyên đơn) song lời chứng này không có nội dung gì mới so với các tài liệu trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của nguyên đơn nên không có căn cứ để chấp nhận. Cũng trong lời chứng, ông T4 thể hiện mình không phải là người giữ bìa đỏ đất rừng của nguyên đơn nên nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa, triệu tập ông T4 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[2.5]. Đối với vấn đề nộp thuế đất rừng của nguyên đơn thì thấy: theo Phương án nạp sản phẩm năm 2016, 2015, 2013, các nội dung đều được đánh máy sẵn nhưng trong mục diện tích đất rừng (m²) đã bị sửa chữa con số đánh máy từ 0,0m² thành con số viết tay là 22443,6m²; việc sửa chữa này không xác định được lý do, thời gian sửa nhưng hoàn toàn không trùng khớp với mục tổng diện tích nộp thuế ghi nhận trong các bản Phương án. Việc nộp hoa lợi rừng (là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại – khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Dân sự) là nộp 01 phần lợi ích thu được từ việc thu hoạch sản vật tự nhiên (thuộc thuế tài nguyên tại khoản 5 Điều 2 Luật Thuế tài nguyên), không phải là tiền thuế sử dụng đất nông nghiệp (tiền thuế đất được tính dựa trên Diện tích; Hạng đất; Định suất thuế tính bằng kilôgam thóc trên một đơn vị diện tích của từng hạng đất). Hơn nữa, theo Điều 19 của Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993; Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc Hội thì ông H bà L được miễn thuế đất nông nghiệp. Do đó, không có cơ sở để xác định, nguyên đơn đã nộp thuế đất lâm nghiệp với phần diện tích đất tranh chấp như kết luận của Tòa án cấp sơ thẩm.

[2.6]. Bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử áp dụng Bản đồ địa giới hành chính theo Quyết định số 217/QĐ.UB ngày 30/12/1996 của UBND huyện Y, xác định ranh giới 2 xã Đ (K + Đ) và Quang T5 theo Biên bản hiệp thương địa giới hành chính giữa 2 xã vào ngày 24/12/1992 để chứng minh việc sử dụng đất của bị đơn là hợp pháp và Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng sai đoạn phân giới.

Theo mô tả trong Quyết định số 217, đường biên thửa đất của gia đình bị đơn nằm trên đường phân định ranh giới 2 xã, được mô tả cụ thể tại đoạn 10: “từ

9

điểm đặc trưng số 9 (đỉnh Động Vung) theo hướng Bắc - Tây Bắc, đường địa giới chạy theo đường phân thủy đến mốc bê tông 2 mặt có số hiệu (ĐT-QT)2X1 mốc chôn tại phía Nam bờ đập Chuối. Đoạn này dài 325m” (bút lục số 211) và thể hiện trên Bản đồ địa giới xã K - xã Q (bút lục số 119) nhưng Tòa án sơ thẩm lấy đoạn 11 “Từ mốc bê tông 02 mặt có số hiệu (ĐT- QT) 2X1, theo hướng chính là hướng B- T đường địa giới chạy theo bờ đập (Đập rộng 4m) rồi theo đường phân thủy đến điểm đặc trưng số 10 (Đỉnh động). Đoạn này dài 850m” để mô tả địa giới giữa đất các đương sự tại phần “Tóm tắt nội dung vụ án” là không đúng.

Qua xem xét thẩm định tại chỗ lại thì thấy: giữa thực trạng ranh giới sử dụng đất 2 gia đình có đường dẫn nước mưa (rãnh) từ đỉnh Động Vung xuống suối M, theo bị đơn đó là đường phân thủy ghi nhận trong Bản đồ 1996 nhưng nguyên đơn cho rằng bị đơn mới tự ý đào khi xảy ra tranh chấp. Do hai bên đương sự đều không đưa ra được chứng cứ chứng minh thời gian và nguyên nhân hình thành nên Hội đồng xét xử không xác định rãnh đó là vật thể tự nhiên hay nhân tạo, có phải là đường phân thủy hay không và vì vậy không được sử dụng để làm căn cứ phân định biên giới giữa 2 xã.

Tuy nhiên, trên Bản đồ địa chính hiện hành, đường biên 2 xã (đoạn qua đất bị đơn) không chạy theo hướng Bắc – Tây Bắc mà chạy theo hướng Bắc – Đông Bắc; đoạn từ đỉnh Động Vung chạy xuống suối M không theo đường phân thủy (chỉ có đoạn từ suối M đến mốc bê tông (ĐT-QT)2X1 là theo đường phân thủy), tổng chiều dài đo được trên bản đồ là 305,88m. Như vậy, so với phân định địa giới năm 1996 thì đã không có sự phù hợp với Bản đồ địa chính hiện hành nên việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Bản đồ địa chính hiện hành để kết luận bị đơn sử dụng lấn chiếm sang thửa đất số 207 của xã Q là không có cơ sở pháp luật.

[2.7]. Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy chưa có chứng cứ để chứng minh nguyên đơn là chủ sử dụng diện tích đất tranh chấp 8287,6m² mà bị đơn đang trực tiếp sử dụng; Tòa án sơ thẩm đã có sai sót trong việc nhận định, sử dụng chứng cứ và áp dụng pháp luật khi chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, kháng cáo của bị đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận nhưng việc hủy án sơ thẩm là không cần thiết vì Tòa án phúc thẩm có thể khắc phục được các sai sót của Tòa án sơ thẩm mà không cần phải kéo dài thêm thời gian giải quyết vụ án, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của các đương sự. Nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự để sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.8]. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên cần sửa lại tiền án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng phát sinh trong giai đoạn sơ thẩm cho phù hợp. Nguyên đơn (bà L) là người cao tuổi và cháu Tường V (trẻ em) do bà L đại diện nhưng không có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử phúc thẩm buộc phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

10

Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ lại (11.200.000 đồng) phát sinh trong giai đoạn phúc thẩm thì bị đơn đã nộp đủ, đồng ý chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.9]. Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận nên bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.

[3]. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An, Hội đồng xét xử thấy:

[3.1]. Mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu còn mâu thuẫn về giao đất giao rừng, nộp thuế sản phẩm của nguyên đơn, sai lệch giữa diện tích đất trên bản đồ địa chính, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ (lần đầu) để giải quyết vụ án nhưng Tòa án phúc thẩm đã khắc phục được bằng hình thức thu thập bổ sung và xác minh chứng cứ đầy đủ.

[3.2]. Quá trình xét xử sơ thẩm, chính quyền địa phương (xã Q và huyện Y) không cung cấp được Bản đồ giao đất lâm nghiệp xã Q theo kết quả tổng hợp năm 1999 nên Tòa án cấp sơ thẩm không thể biết sự liên quan của ông Phan Lệ S1 và ông Nguyễn Thế T3; sau khi Tòa án phúc thẩm lấy lời khai, ông T3 không yêu cầu bị đơn trả đất còn ông S1 chưa yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Hơn nữa, như kết luận tại mục [2], Tòa án phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T3, ông S1, vì vậy, Tòa án sơ thẩm không đưa ông S1, ông T3 tham gia tố tụng là không vi phạm; Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận tạm ngừng phiên tòa để triệu tập hai người này tham gia tố tụng như yêu cầu của phía nguyên đơn là phù hợp.

[3.3]. Đối với quan điểm Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng án phí có giá ngạch đối với đương sự là vi phạm. Hội đồng xét xử thấy: khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định:

“2. Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định như sau:

a) Trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà Tòa án không xem xét giá trị, chỉ xem xét quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất của ai thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án không có giá ngạch;

b) Trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà Tòa án phải xác định giá trị của tài sản hoặc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đất theo phần thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp vụ án có giá ngạch đối với phần giá trị mà mình được hưởng.”

Trong vụ án này, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả lại 8287,6m² thuộc thửa đất số 207 của nguyên đơn. Như vậy, Tòa án chỉ cần xem xét diện tích đất 8287,6m² thuộc quyền sử dụng của ai để buộc người có hành vi xâm phạm phải trả cho chủ sở hữu hợp pháp nên đây là loại tranh chấp

11

có án phí không có giá ngạch theo quy định tại điểm a khoản 2; người nào có nghĩa vụ (tức người thua kiện) phải chịu án phí.

Việc Viện kiểm sát cho rằng nguyên đơn chỉ đòi 1 phần đất của thửa 207 (8287,6m²) mà không đòi cả thửa đất (22443,6m²) thì phải chịu án phí có giá ngạch là không đúng với quy định tại điểm b khoản 2, cụ thể: tại điểm b, đương sự chỉ chịu án phí (có giá ngạch) đối với phần giá trị mà mình được hưởng, điều này có nghĩa, đương sự chịu án phí đối với quyền lợi Tòa án phán quyết cho mình (dành cho cả người thua kiện và người thắng kiện) mà không phải chịu án phí đối với nghĩa vụ của mình.

Do đó, đề nghị này của Viện kiểm sát là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xử: chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Thái Doãn H2, sửa bản án sơ thẩm số 18/2025/DS-ST ngày 28/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An như sau:

Áp dụng: Các Điều 147; 157; 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các Điều 180, 182, 183, 184 của Bộ luật Dân sự 2015.

Các Điều 27, 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị L về việc buộc anh Thái Doãn H2 phải trả lại 8287,6m² đất hiện đang ghi nhận tại thửa đất số 207, tờ bản đồ số 01 thuộc xóm T, xã Q, tỉnh Nghệ An và thu hoạch cây cối trên đất tranh chấp.
  2. Về chi phí tố tụng: buộc bà Phạm Thị L và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng khác của ông Nguyễn Văn H (Nguyễn Thị T; Nguyễn Thị T1; Nguyễn Thị N2; Nguyễn Thị N3; Nguyễn Thị H1; Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Tường V) phải chịu 10.000.000 (Mười triệu) đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (lần thứ nhất); đã nộp đủ nên không phải nộp thêm.
  3. Về án phí: bà Phạm Thị L và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng khác của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H (Nguyễn Thị T; Nguyễn Thị T1; Nguyễn Thị N2; Nguyễn Thị N3; Nguyễn Thị H1; Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Tường V) phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0010977 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An phát hành ngày 10/12/2021.

12

Trả lại cho anh Thái Doãn H2 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu số 0006707 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An phát hành ngày 14/5/2025.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Phòng THADS KV6-NA;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Hồng Thể

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2025/DS-PT ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 140/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger