Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 14/2028/DS-PT

Ngày 20/01/2026

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân

Các Thẩm phán: Ông Phạm Ngọc Thành; Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất"

Do bản án dân sự sơ thẩm số: Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 11/3/2025, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Hưng Yên) bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 188/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 11 năm 2025 và các quyết định hoãn phiên tòa số: 173 ngày 01/12/2025; số 201 ngày 18/12/2025; số 05 ngày 06/01/2026 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1959; Người được ủy quyền, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu N1, sinh năm 1932; Đều có địa chỉ: thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn T, xã L, tỉnh Hưng Yên) (ông N, ông N1 có mặt)
  • Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1967; Địa chỉ: thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn T, xã L, tỉnh Hưng Yên) (có mặt)
  • Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn S: Luật sư Nguyễn Minh H và luật sư Vũ Hồng T. Địa chỉ: Văn phòng L (Đoàn luật sư thành phố H). Số nhà A, ngách B phố Đ, phường C, B, Hà Nội (vắng mặt)
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1933; Địa chỉ: thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt)
    2. Bà Lý Thị S2, sinh năm 1938, Địa chỉ: thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên; (vắng mặt)
    3. Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1968; Địa chỉ: thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)
    4. Bà Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1955, Địa chỉ: thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên; (vắng mặt)
    5. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960; Địa chỉ: xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)
    6. Bà Nguyễn Thị S3, sinh năm 1964; Địa chỉ: xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)
    7. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1976, Địa chỉ: phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; (vắng mặt)
  • Người làm chứng:
    1. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1952; Địa chỉ: thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)
    2. Bà Lê Thị H2, sinh năm 1973; Địa chỉ: thôn H, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình xét xử nguyên đơn trình bày: Ông Nguyễn Ngọc N3 với ông Nguyễn Văn S là hàng xóm của nhau tại thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Nguồn gốc đất ông S đang sử dụng là đất của ông Nguyễn Văn S1 (bố đẻ của ông Nguyễn Văn S). Gia đình ông S1 sử dụng diện tích đất 342m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn S1 (bố con ông S1 sử dụng mảnh đất trên), nguồn gốc đất ông S1, anh S sử dụng do tổ tiên để lại Gia đình ông sử dụng đất cũng do các cụ để lại cho bố ông là Nguyễn Hữu N1 Đến năm 1989, bố ông đã tặng cho ông sử dụng, hàng năm đóng thuế sử dụng đất ở đến nay và đất ở mang tên ông trên bản đồ, diện tích sử dụng 123,1m2 theo như bản đồ địa chính thì gia đình ông với gia đình ông S1 sử dụng đất ranh giới là một đường thẳng có mốc giới rõ ràng là bức tường do ông S1 xây từ năm 1992 có chiều dài khoảng 14m, chiều cao 1,6m, hai gia đình đã ký biên bản xác định mốc giới. Đến tháng 02/2020 ông S phá toàn bộ bức tường xây cũ đi và xây công trình nhà cấp 4 (nhà trọ) lấn sang đất ở của gia đình ông thêm 26cm chạy dài hơn 14m, sự việc xảy ra gia đình ông đã làm đơn ra UBND xã M giải quyết, hòa giải nhiều lần không thành, sau đó ông khởi kiện ông S, đã được TAND huyện Văn Lâm và TAND tỉnh Hưng Yên giải quyết, cấp sơ thẩm xác định gia đình ông S lấn chiếm sang phần đất ở của gia đình ông N có diện tích 4,2m2 sự việc đã rõ ràng.

...

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn S là hợp pháp và có căn cứ. Về việc vắng mặt của luật sư và những người tham gia tố tụng khác: Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn thấy: Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án sơ thẩm đã đánh giá chứng cứ đầy đủ, khách quan, áp dụng đúng quy định của pháp luật tuyên buộc bị đơn trả lại diện tích đất lấn chiếm là phù hợp và đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy hiện nay phần đất bị đơn lấn chiếm đã xây dựng công trình nhà ở và đang sử dụng, do vậy cần buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn bằng giá trị để đảm bảo sự ổn định và an toàn cho việc sử dụng, không ảnh hưởng đến kết cấu, công năng của công trình, đảm bảo khả năng thi hành án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa là phù hợp.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 227, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

I. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn S; sửa một phần bản án sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Hưng Yên). Cụ thể:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc N về việc kiện đòi đối với phần đất có chiều rộng 0,29m x dài 14,3m tổng bằng 4,13m2 do ông Nguyễn Văn S đã lấn chiếm. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N2 phải trả cho ông Nguyễn Ngọc N giá trị phần diện tích đất đã lấn chiếm là 7.464.000 đồng ( Bảy triệu bốn trăm sáu mươi tư nghìn đồng)

II. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị N2 phải thanh toán trả cho ông Nguyễn Ngọc N số tiền 15.888.000 đồng (Mười lăm triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng) tiền chi phí thẩm định giá.

III. Về án phí: Ông Nguyễn Văn S phải chịu 372.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả ông Nguyễn Ngọc N 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án ngày 20/01/2026.

Nơi nhận:

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên;

- Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hưng Yên;

- Phòng thi hành án dân sự khu vực 4, tỉnh Hưng Yên

- Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Vũ Duy Luân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2028/DS-PT ngày 20/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 14/2028/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NH - S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger