|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 14/2026/HS-PT Ngày 10/02/2026 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân
Các Thẩm phán: Ông Phạm Ngọc Thành và bà Nguyễn Thị Hân
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2026/TLPT-HS ngày 05 tháng 01 năm 2026 do có kháng cáo của ông Trần Công C đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2025/HSST ngày 25/11/2025 của Tòa án khu vực 8 - Hưng Yên, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2026/QĐXXPT-HS ngày 28/01/2026 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Ngọc N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có. Sinh ngày 18/12/1998. Cư trú: thôn M, xã Q, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1967; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1975. Hiện đều sinh sống tại xã Q, tỉnh Hưng Yên; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Vợ: Lê Ngọc Á, sinh năm 2004. Hiện sinh sống tại xã Q, tỉnh Hưng Yên; Có 01 con, sinh năm 2025. Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2025 tại xã Q, tỉnh Hưng Yên.
- Họ và tên: Nguyễn Ngọc P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 27/8/1993. Cư trú: thôn M, xã Q, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Bố đẻ: Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1967. Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1975. Hiện đều sinh sống tại xã Q, tỉnh Hưng Yên; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tháng 9/2011 nhập ngũ đến tháng 8/2012 xuất ngũ trở về địa phương. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2025 tại xã Q, tỉnh Hưng Yên. Ngày 25/8/2025, có hành vi tổ chức đánh bạc, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 26/8/2025 đến ngày 03/9/2025 bị khởi tố bị can chuyển tạm giam, để điều tra về tội "Tổ chức đánh bạc", theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự, đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 1 Công an tỉnh H.
- Họ và tên: Lương Văn Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có. Sinh ngày 05/7/1999. Cư trú: tổ dân phố H, phường V, tỉnh Sơn La. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Bố đẻ: Lương Văn K, đã chết. Mẹ đẻ: Phạm Thị H1, sinh năm 1980. Hiện sinh sống tại xã Q, tỉnh Hưng Yên; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Chưa có vợ, con. Tiền án: Bản án số 13/2022/HSST, ngày 15/3/2022 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong bản án ngày 19/3/2023. Tiền sự: Không. Bị khởi tố, bắt tạm giam từ ngày 13/5/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ, Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh H.
- Họ và tên: Nguyễn Thế A; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có. Sinh ngày 04/9/1996. Cư trú: thôn C, xã Q, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: Nguyễn Thế T, sinh năm 1969. Mẹ đẻ: Đỗ Thị B, sinh năm 1972. Hiện đều sinh sống tại xã Q, tỉnh Hưng Yên; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1998. Hiện sinh sống tại xã Q, tỉnh Hưng Yên; Có 01 con, sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2025 tại xã Q, tỉnh Hưng Yên.
Các bị cáo có mặt
* Bị hại: ông Trần Công C, sinh năm 1971, cư trú: thôn V, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã H, thành phố Hải Phòng), có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Ngọc N là anh em ruột và cùng có quan hệ bạn bè với Lương Văn Đ và Nguyễn Thế A. Tháng 11/2024, bố đẻ của P, N là ông Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1967, cư trú: thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là xã Q, tỉnh Hưng Yên) có xảy ra xô xát với ông Trần Công C, sinh năm 1971, cư trú: thôn V, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã H, thành phố Hải Phòng) khi làm dịch vụ tang lễ ở xã T, huyện P, tỉnh Hưng Yên (nay là xã Q, tỉnh Hưng Yên). Do không thương lượng, hòa giải được N nảy sinh ý định đánh ông C nên dặn P "Khi nào thấy nó sang đây thì bảo tao", P đồng ý. Khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 13/02/2025, P ngồi ở quán nước, truy cập mạng xã hội Facebook thấy tài khoản "Xuân Chín" của ông C phát trực tiếp (livestream) hình ảnh làm dịch vụ tang lễ tại nhà bà Phạm Thị L, sinh năm 1968, ở thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là xã M, tỉnh Hưng Yên) đã nảy sinh ý định tìm đánh ông C nên gọi điện cho N rủ đi tìm đánh ông C. Lúc này, N đang ăn uống cùng Lương Văn Đ và Nguyễn Thế A tại quán L1, ở xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là xã Q, tỉnh Hưng Yên), nên rủ Đ và Thế A đi cùng. Đ điều khiển xe mô tô chở N, Thế A điều khiển xe mô tô tới cổng trường Trung học cơ sở Q đón P. Trên đường đi, P bảo Thế A "Giờ xuống Q tìm đánh ông C trả thù việc ngày trước ông C đánh bố anh". N bảo Đ "Trước nó đánh bố tôi, giờ đi xuống tìm nó đánh để dằn mặt". Thế A và Đ đồng ý. Khoảng 13 giờ 30 phút, tới khu vực ngã ba cách đám tang nhà bà L khoảng 30 mét, P xuống xe bảo "Chúng mày đứng ở đây để tao vào trong tìm nó" rồi đi bộ vào đám tang. Thế A ngồi trên xe. Đ và N xuống xe đứng ở đầu lối ngõ vào đám tang. Khi ông C cùng ông Bạch Quang H2, sinh năm 1966, cư trú: khu A, xã N, thành phố Hải Phòng khiêng nắp lồng kính quan tài từ trong nhà bà L ra đặt lên thùng xe ô tô tải của ông C đỗ ở đường. P đi theo. Ông C vừa đặt lồng kính lên thùng xe ô tô thì N từ phía sau tới, đứng cách khoảng 0,5 mét, giơ tay trái lên tát 01 cái, hướng từ sau về trước, từ ngoài vào trong, trúng má trái ông C làm ông C bị ngã dựa vào thành bên trái xe ô tô. Ông C vừa quay mặt lại liền bị N dùng tay trái đấm một nhát vào mạn sườn trái. Thấy ông C bị đánh, ông H2 can ngăn thì bị đẩy ra. Đ đi lên từ phía sau dùng tay trái đấm 01 nhát vào lưng (bả vai) ông C làm cho ông C ngã khuỵ xuống đường, ở tư thế hai đầu gối quỳ, hai tay chống về phía trước. N đứng phía sau bên trái tiếp tục vung chân trái đi giày da màu đen đá 01 nhát hướng từ sau về trước trúng mạn sườn trái, gần thắt lưng ông C. Sau đó, Đ chở N, Thế A chở P đi về. Ông C được ông H2 và một số người dân đưa đến Bệnh viện Đ1 khám, chụp xquang sau chuyển Bệnh viện Đa khoa tỉnh H (nay là Bệnh viện Đ, thành phố Hải Phòng) điều trị thương tích đến ngày 19/02/2025 được xuất viện về điều trị tại gia đình. Hậu quả: ông C bị chấn thương phần mềm vùng đầu mặt; gây xương sườn 6, 7, 8, 9, 10, 11 bên trái; gãy xương sườn 10, 11 bên phải; gãy gai ngang L1, L2, L3 bên trái; tổn thương màng phổi trái; tổn thương màng phổi phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 32%.
Tại Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Ngọc P, Lương Văn Đ và Nguyễn Thế A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N 02 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P 02 năm 3 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn Đ 02 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/5/2025.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/11/2025.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo phải bồi thường cho ông Trần Công C số tiền 115.236.400 đồng. Chấp nhận việc các bị cáo đã tự nguyện bồi thường 80.000.000 đồng; số tiền còn lại 35.236.400 đồng các bị cáo phải liên đới bồi thường, kỷ phần mỗi bị cáo là 8.809.100 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 27/11/2025, người bị hại ông Trần Công C kháng cáo bản án sơ thẩm số 64/2025/HS-ST ngày 25/11/2025; đề nghị tăng hình phạt đối với 04 bị cáo, tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự là 250.000.000 đồng, làm rõ hành vi chiếm đoạt chiếc dây chuyền bạc của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Công C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên xử, các bị cáo nhất trí với mức hình phạt và mức bồi thường của bản án sơ thẩm, cam kết sẽ bồi thường hết số tiền còn lại cho bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ hành vi vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị hại. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Các bị cáo và bị hại không có tranh luận gì, các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:
1. Về thủ tục tố tụng: Ngày 27/11/2025 ông Trần Công C làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định là hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo thủ tục
2. Xét yêu cầu kháng cáo của người bị hại, thấy:
2.1 Về kháng cáo tăng hình phạt đối với các bị cáo: Tại phiên toà các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm tội của mình, hành vi của các bị cáo dùng tay, chân đấm, đá gây thương tích 32% cho ông Trần Công C, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; hành vi vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%) - là tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo P có nhân thân xấu, ngày 25/8/2025 có hành vi tổ chức đánh bạc; bị cáo N, Thế A có nhân thân tốt, trước lần phạm tội này chưa có hành vi vi phạm pháp luật. Bị cáo Đ đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, các bị cáo đều thành khẩn khai báo; tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo P có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, bị cáo Thế A hoàn cảnh gia đình khó khăn nên hai bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không bàn bạc, phân công nhiệm vụ cho nhau; các bị cáo N, Đ trực tiếp đấm, đá gây thương tích cho ông C nên giữ vai trò thứ nhất; bị cáo P là người khởi xướng việc đánh ông C, tuy nhiên bị cáo không gây thương tích cho ông C nên giữ vai trò thứ 2; bị cáo Thế A là đồng phạm giúp sức chở bị cáo P nên giữ vai trò cuối cùng trong vụ án. Bị cáo N, Đ thực hiện vai trò tích cực, trực tiếp gây thương tích cho bị hại; bị cáo P nhân thân xấu, trong thời gian tại ngoại tiếp tục phạm tội mới, do đó cần thiết phải xử phạt hình phạt tù đối với các bị cáo N, Đ và P. Đối với bị cáo Thế A có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, tham gia với vai trò đồng phạm thứ yếu, căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo. Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo, tuyên phạt bị cáo Lương Văn Đ 02 năm 09 tháng tù, bị cáo Nguyễn Ngọc N 02 năm 06 tháng tù, bị cáo Nguyễn Ngọc P 02 năm 03 tháng tù, bị cáo Nguyễn Thế A 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh thêm tình tiết mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo đối với các bị cáo, do đó không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Công C.
2.2 Về kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại:
Quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, ông Trần Công C yêu cầu các bị cáo phải bồi thường các khoản chi phí gồm:
- Chi phí khám, điều trị và bồi dưỡng sức khỏe: 14.723.400 đồng (chi phí chụp chiếu tại Bệnh viện Đ1 723.400 đồng; chi phí điều trị tại Bệnh viện Đ 4.061.000 đồng; thuê phương tiện chở bị hại đi điều trị 800.000 đồng x 2 chiều = 1.600.000 đồng; tiền ăn của bị hại và người chăm sóc trong 07 ngày nằm viện 1.650.000 đồng; tiền thuốc, chi phí điều trị ngoài 4.489.000 đồng; áo cố định, bô, quần áo, đệm, bóng hỗ trợ thở 2.200.000 đồng).
- Ngoài ra, ông C yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 579.306.000 đồng, gồm: Chi phí trả tiền thuê phương tiện xe ô tô cho người chăm sóc 7.056.000 đồng; trả tiền thuê phương tiện để ông C đi tố giác và làm việc với Cơ quan Công an 5.900.000 đồng; tiền ăn của ông C và người chăm sóc trong 04 tháng 18.000.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất của ông C trong 03 tháng 225.000.000 đồng; thu nhập thực tế của 02 người chăm sóc (02 tháng) 45.000.000 đồng; bồi dưỡng sức khỏe 03 tháng 18.000.000 đồng; chi phí cho người chăm sóc 03 tháng lương tối thiểu vùng là 10.350.000 đồng; bồi dưỡng tổn thất tinh thần 250.000.000 đồng.
Bản án sơ thẩm tuyên buộc các bị cáo phải bồi thường cho ông Trần Công C số tiền 115.236.400 đồng. Tại đơn kháng cáo đề ngày 27/11/2025, ông C yêu cầu tăng mức bồi thường lên 250.000.000 đồng. Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy: Thời gian bị hại điều trị thương tích tại bệnh viện là 07 ngày (từ ngày 13/02/2025 đến ngày 19/02/2025); điều trị tại nhà 10 ngày (từ ngày 20/02/205 đến 29/02/2025).
Trên cơ sở các quy định của pháp luật tại Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 590 Bộ luật Dân sự, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của HĐTPTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần buộc các bị cáo phải bồi thường cho người bị hại các khoản sau:
- Chi phí hợp lý cho việc khám, điều trị và bồi dưỡng sức khỏe: 14.723.400 đồng.
- Chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe của bị hại (bao gồm tiền ăn, thuốc bổ, bồi dưỡng) trong 3 tháng x 200.000 đồng/ngày = 18.000.000 đồng.
- Thu nhập thực tế bị mất của người bị hại, ông C yêu cầu 225.000.000 đồng, chấp nhận mỗi tháng 15.000.000 đồng x 3 = 45.000.000 đồng.
- Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc, ông C yêu cầu thu nhập 02 người chăm sóc trong 2 tháng 45.000.000 đồng, chấp nhận 1 người trong 17 ngày (từ 13/02/2025 đến 29/02/2025): 250.000 đồng/ngày x 17 = 4.250.000 đồng.
- Chi phí trả tiền thuê phương tiện xe ô tô cho người chăm sóc, ông C yêu cầu 7.056.000 đồng, chấp nhận 1 chiều đi, 1 chiều về 504.000 đồng x 2 = 1.008.000 đồng.
- Chi phí cho người chăm sóc bị hại yêu cầu 03 tháng lương tối thiểu vùng là 10.350.000 đồng, chấp nhận 17 ngày lương tối thiểu vùng (từ 13/02/2025 đến 29/02/2025) là 2.255.000 đồng.
- Bồi thường tổn thất tinh thần, ông C yêu cầu 250.000.000 đồng, chấp nhận một phần yêu cầu là 30.000.000 đồng.
- Đối với yêu cầu của ông C về chi phí thuê phương tiện để ông C đi tố giác và làm việc với Cơ quan Công an 5.900.000 đồng, không có căn cứ theo quy định của pháp luật nên không chấp nhận.
- Đối với yêu cầu của ông C về khoản chi phí tiền ăn cho ông C và người chăm sóc trong 3 tháng là 18.000.000 đồng, do đã trùng với tiền bồi dưỡng sức khỏe nên không chấp nhận yêu cầu này của bị hại.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 115.236.400 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại.
Tại cấp phúc thẩm, ông C không cung cấp thêm tài liệu mới chứng minh cho lý do kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự của ông C.
2.3 Về kháng cáo đề nghị xem xét xử lý hành vi của các bị cáo chiếm đoạt chiếc dây chuyền bạc của ông C:
Ông Trần Công C khai ngoài bị đánh ông còn bị mất 01 sợi dây chuyền bạc có giá trị khoảng 03 triệu đồng đeo ở cổ. Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Các bị cáo Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Ngọc P, Lương Văn Đ, Nguyễn Thế A khai không thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ông C. Ông Bạch Quang H2 khai không nhìn thấy các bị cáo chiếm đoạt hay nhặt được chiếc dây chuyền của ông C. Xung quanh địa điểm xảy ra vụ việc không có camera an ninh (Bút lục 23). Ngoài lời khai của ông C không có tài liệu, chứng cứ nào khác, do đó không có đủ cơ sở để xử lý các bị cáo về hành vi chiếm đoạt tài sản của ông C.
[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị hại không được chấp nhận nên bị hại phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
I. Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Công C, giữ nguyên Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, cụ thể:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Ngọc P, Lương Văn Đ và Nguyễn Thế A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N 02 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P 02 năm 3 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn Đ 02 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/5/2025.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/11/2025.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo phải bồi thường cho ông Trần Công C số tiền 115.236.400 đồng. Chấp nhận việc các bị cáo đã tự nguyện bồi thường 80.000.000 đồng; số tiền còn lại 35.236.400 đồng các bị cáo phải liên đới bồi thường, kỷ phần mỗi bị cáo là 8.809.100 đồng.
II. Về án phí hình sự phúc thẩm: Ông Trần Công C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
III. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
IV. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án ngày 10/02/2026.
|
Nơi nhận: - Viện kiểm sát tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan Điều tra, Cơ quan thi hành án hình sự, Viện kiểm sát, Tòa án khu vực 8- Hưng Yên. - Bị cáo kháng cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. - Lưu hành chính tư pháp. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Duy Luân |
Bản án số 14/2026/HS-PT ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 14/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Nh
