Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7-PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 30/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Anh Nhinh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vi Đại Phong

Nguyễn Thị Quỳnh Châu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu, Thư ký - Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 30/12/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7- Phú Thọ, Toà án nhân dân khu vực 7- Phú Thọ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/HS-ST ngày 05/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: TRẦN THỊ T; Tên gọi khác: Không;Giới tính: Nữ; Sinh ngày 03 tháng 9 năm 1979 tại: Xã B, TP Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Khu D, xã T, Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không; Văn hóa: 4/10; Nghề nghiệp:

Lao động tự do; Bố đẻ: Trần Văn N; đã chết; Mẹ đẻ: Trần Thị L, sinh năm 1952; Chồng: Hà Văn H; Sinh năm: 1974; Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2013; Hiện chồng và 02 con của bị cáo đều sinh sống tại khu D, xã T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 05/12/2022 T bị công an huyện T, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi hành chính về hành vi đánh bạc. Phạt số tiền 3.500.000đ, T đã chấp hành xong ngày 07/12/2022.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/9/2025 đến ngày 14/9/2025. Hiện bị cáo đang thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ;

2. Họ và tên: ĐỖ VĂN Đ; Giới Tính: Nam; sinh ngày: 20/8/184; Tại T;Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Khu L, xã T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không ;Văn hóa: 04/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Đinh Văn K, sinh năm 1945; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị V, sinh năm: 1947; Vợ: Nguyễn Thị Minh T1, sinh năm 1985; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018; (Hiện vợ, con đều sinh sống tại Chiềng lớn, xã L, tỉnh Phú Thọ);

Tiền án, Tiền sự: Không;

Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Hà Thị T2, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Khu D, xã T, tỉnh Phú Thọ.

( Bị cáo T, bị cáo Đ đều có mặt tại phiên tòa; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị T2 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 10 phút, ngày 11 tháng 9 năm 2025 tại nhà ở của Trần Thị T, Công an tỉnh P kiểm tra hành chính phát hiện T đang bán số lô, số đề cho Hà Thị T2 là người ở cùng khu, với tổng số tiền 4.300.000 đồng. Thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno5 màu đen lắp sim số 0983475962 và số 0389659202. Thu giữ của T2 01 điện thoại di động Iphone 6S màu vàng bên trong lắp sim số 032882822.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Thị T. Kết quả khám xét: thu giữ 01 bút bi mực xanh, vỏ bên ngoài màu trắng T dùng để ghi các số lô, số đề bán cho T2.

Đến 20 giờ cùng ngày, Đỗ Văn Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P đầu thú về hành vi mua số lô, số đề của T với số tiền 7.050.000 đồng. Đông tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu đen lắp sim số 0363135268 liên quan đến hành vi mua số lô, số đề giữa Đ và T.

Về hình thức đánh bạc là mua bán số lô, số đề: Thắm, T2, Đ thỏa thuận đánh bạc căn cứ theo kết quả xổ số miền bắc mở thưởng hàng ngày. Đối với số đề, người chơi chọn một trong các số tự nhiên từ 00 đến 99 để mua và so sánh với hai số cuối của giải đặc biệt của kết quả xổ số miền bắc mở thưởng trong ngày. Nếu trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì người chơi thắng (trúng đề) và được hưởng số tiền gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra, nếu không trùng thì bị mất số tiền bỏ ra ban đầu. Đối với số lô, người chơi chọn một trong các số tự nhiên từ 00 đến 99 để mua theo quy ước cứ 01 điểm lô = 23.000 đồng và so sánh với hai số cuối tất cả các giải thưởng của kết quả xổ số miền bắc mở thưởng trong ngày, nếu trùng thì trúng thưởng theo tỷ lệ 01 điểm lô được trả thưởng 80.000 đồng. Nếu không trùng thì bị mất số tiền bỏ ra ban đầu.

Khoảng 15 giờ ngày 11 tháng 9 năm 2025, Đ gọi điện qua ứng dụng Zalo cho T, hỏi mua các số lô, số đề thì T đồng ý. Đông mua các số lô 27, 30 mỗi số 150 điểm (23.000 đồng/01 điểm lô); các số đề 78, 87 mỗi số 75.000 đồng. Tổng số tiền mua số lô, số đề của Đ là 7.050.000 đồng. Thắm ghi các số lô, số đề trên ra một tờ giấy sau đó chụp ảnh và gửi lại cho Đ để làm căn cứ xác định thắng thua. Đ chuyển khoản cho T số tiền 6.500.000 đồng và nợ lại số tiền 550.000 đồng.

Đến 17 giờ 42 phút cùng ngày, Hà Thị T2 hỏi mua các số lô, số đề của Trần Thị T thì T đồng ý. T2 sử dụng ứng dụng zalo và gửi ảnh chụp một tờ giấy có ghi các số lô, số đề mà T2 muốn mua. Sau khi xem hình ảnh, T xác nhận các số lô, số đề mà T2 mua và xác định tổng số tiền mua các số lô, số đề T2 phải trả cho T là 4.300.000 đồng. T cho lại T2 số tiền 130.000 đồng. T2 còn phải trả cho T tổng số tiền là 4.170.000 đồng. T2 chuyển khoản cho T số tiền 3.500.000 đồng và nợ 670.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ, T gọi điện cho T2 nói chưa nhận được tiền nên T2 đến nhà T để cho T xem hình ảnh giao dịch chuyển tiền. Khi T2 đến nhà T, đang trao đổi về nội dung mua bán số lô, số đề thì bị Công an tỉnh P kiểm tra, phát hiện như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, Trần Thị T, Đỗ Văn Đ và Hà Thị T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm và hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các đối tượng hoàn toàn phù hợp với nhau về các dữ liệu trong tin nhắn zalo, thời gian, cách thức đánh bạc, phù hợp với Biên bản sự việc và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và vật chứng đã thu giữ của Trần Thị T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno5 màu đen lắp sim số 0983475962 và số 0389659202, đã qua sử dụng; thu giữ của Hà Thị T2 01 điện thoại di động Iphone 6S màu vàng, bên trong lắp sim số 0328828223, đã qua sử dụng; Đỗ Văn Đ đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan cảmh sát điều tra Công an tỉnh P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu đen lắp sim số 0363135268, đã qua sử dụng, ngoài ra còn thu giữ của Trần Thị T 01 bút bi mực xanh, vỏ bên ngoài màu trắng đã qua sử dụng để phục vụ điều tra vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 07/CT-VKS-KV7 ngày 03/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 truy tố các bị cáo Trần Thị T, Đỗ Văn Đ về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 - BLHS, đối với bị cáo Trần Thị T xử phạt bị cáo T từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được khấu trừ 3 ngày tạm giữ (từ ngày 11/9/2025 đến 14/9/2025) = 9(Chín) ngày cải tạo không giam giữ.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 Điều 36 - BLHS, đối với bị cáo Đỗ Văn Đ xử phạt bị cáo Đ từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ;

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Trần Thị T và Đỗ Văn Đ.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự .

Tịch thu để xung ngân sách nhà nước số tiền 11.350.000đồng (mười một triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng). Đây là khoản tiền Đ và T2 dùng để đánh bạc với T vào ngày 11/9/2025.

Tịch thu bán xung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu đen, đã qua sử dụng do Đỗ Văn Đ tự nguyện giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno5 màu đen, đã qua sử dụng thu giữ Trần Thị T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng, đã qua sử dụng đều liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Thị T và Đỗ Văn Đ.

Tịch thu tiêu huỷ 04 sim điện thoại số: 0363135268; 0983475962; 0389659202; và số 032882822; và 01 bút bi mực xanh, vỏ bên ngoài màu trắng đã qua sử dụng do không có giá trị sử dụng.

Các bị cáo không tham gia tranh luận với bản luận tội của Kiểm Sát viên.

Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2]. Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, lời khai các bị cáo tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa, đủ cơ sở Hội đồng xét xử kết luận: Ngày 11/9/2025 tại nhà ở của mình tại khu D, xã T, tỉnh Phú Thọ, Trần Thị T đã bán số lô, số đề cho Đỗ Văn Đ với số tiền 7.050.000 đồng; bán số lô, số đề cho Hà Thị T2 với số tiền 4.300.000 đồng. Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của Trần Thị T là 11.350.000 đồng. Hành vi đó của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” Theo Điều 321- BLHS. Tại khoản 1 Điều 321 - BLHS qui định: “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 luận tội, các bị cáo không có lời bào chữa nào khác, thừa nhận Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, không oan, sai. Như vậy, Cáo trạng số 07/CT-VKS-KV7, ngày 03/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321- BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội và ảnh hưởng xấu đến khu dân cư. Các bị cáo là người đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc nhằm tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo cố ý thực hiện. Do đó hành vi trái pháp luật của các bị cáo cần xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4]. Xét vai trò của các bị cáo: Xem xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cùng các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã chứng minh:

Bị cáo Trần Thị T là chủ, bán số lô, số đề cho Đỗ Văn Đ. Còn Đỗ Văn Đ là đối tượng mua số lô, số đề của T. Nên hai bị cáo đều có vai trò là đồng phạm, là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi Đánh bạc cùng nhau nên có vai trò như nhau.

[5]. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng. Trong vụ án này, bị cáo Trần Thị T và bị cáo Đỗ Văn Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Đối với bị cáo Trần Thị T tuy không có tiền án, tiền sự nhưng ngày 05/12/2022 T bị công an huyện T, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi hành chính về hành vi đánh bạc. Phạt số tiền 3.500.000đ, T đã chấp hành xong ngày 07/12/2022. Như vậy tính đến lần phạm tội này bị cáo được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo cũng không bị tòa án nào đưa ra xét xử, cho nên lần phạm tội này của bị cáo được coi như phạm tội lần đầu. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đối với bị cáo Đỗ Văn Đ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã tự nguyện đến cơ quan điều tra đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo còn có bố để là Đỗ Văn K1 là thương binh và được chủ tịch nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự.

[ 6]. Về hình phạt: Xét thấy tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần cách ly các bị cáo khỏi cộng đồng xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương với mức phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo T và bị cáo Đ cũng đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 thì các bị cáo Trần Thị T và bị cáo Đỗ Văn Đ bị phạt cải tạo không giam giữ còn phải khấu trừ một khoản thu nhập từ 5% đến 20% để sung công quỹ nhà nước. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Bị cáo T đang phải nuôi con nhỏ, chồng bị cáo không có việc làm. Đối với bị cáo Đồng phải nuôi con nhỏ, vợ bị cáo thường xuyên đau ốm không có việc làm ổn định. Do vậy HĐXX xét thấy cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị các cáo là phù hợp.

Trong thời gian cải tạo tại địa phương, các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã chứng minh, các bị cáo đều không có tài sản riêng, làm lao động tự do thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo là phù hợp.

[8]. Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 11.350.000 đồng tham gia đánh bạc giữa T cùng với Đ và T2 vào ngày 11/9/2025: Trong đó T tự nguyện giao nộp số tiền 10.000.000 đồng là số tiền do T2 và Đ mua số lô, số đề chuyển khoản đến, trong đó T2 chuyển khoản số tiền 3.500.000 đồng; Đông chuyển khoản số tiền 6.500.000 đồng. Quá trình điều tra vụ án, Đ đã tự nguyện giao nộp số tiền 550.000 đồng mua số lô, số đề nhưng chưa thanh toán; T2 tự nguyện giao nộp số tiền 800.000 đồng dùng vào việc đánh bạc chưa thanh toán (T2 tự nguyện giao nộp cả số tiền 130.000 đồng hoa hồng mà T cho T2). Cần tịch thu để nộp xung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu đen, đã qua sử dụng do Đỗ Văn Đ tự nguyện giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno5 màu đen, đã qua sử dụng thu giữ Trần Thị T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng, đã qua sử dụng, đều liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Thị T và Đỗ Văn Đ nên cần tịch thu bán xung ngân sách nhà nước .

Đối với 02 sim điện thoại số: 0983475962 và số 0389659202 thu giữ của Trần Thị T; 01 sim điện thoại số 032882822 thu giữ của Hà Thị T2; 01 sim điện thoại số 0363135268; do Đỗ Văn Đ tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra, đều liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Thị T và Đỗ Văn Đ, đều không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 bút bi mực xanh, vỏ bên ngoài màu trắng đã qua sử dụng được thắm sử dụng đêt ghi các số lô số đề đã bán cho Đ và T2 vào ngày 11/9/2025 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

[9]. Các nội dung khác.

Các Lệnh cấm khỏi nơi cư trú số 30a và số 30b ngày 05/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ áp dụng đối với các bị cáo được hủy bỏ, do thấy không cần thiết phải áp dụng đối với các bị cáo.

Đối với Hà Thị T2, ngày 11/9/2025 T2 đã mua số lô số đề của T với số tiền là 4.300.000 đồng. (T2 đã chuyển khoản cho T số tiền đánh bạc là 3.500.000đ, tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra số tiền 800.000₫). Quá trình điều tra, xác minh, xác định T2 chưa bị xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc, gá bạc, tổ chức đánh bạc và chưa bị kết án về các tội phạm này. Số tiền T2 sử dụng vào mục đích đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Vì vậy, Công an tỉnh P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hà Thị T2 về hành vi Đánh bạc theo quy định tại khoản 1, điều 28 nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình là phù hợp.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và người có quyền lọi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị T và bị cáo Đỗ Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 36 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thị T

Xử phạt bị cáo Trần Thị T 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được khấu trừ 03(ba) ngày tạm giữ (từ ngày 11/9/2020 đến 14/9/2025) = 09 (Chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã T - tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo T.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 36 - Bộ luật Hình sự đối với Đỗ Văn Đ.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Đ cho UBND xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Đ.

Trong thời gian cải tạo tại địa phương, bị cáo T và bị cáo Đ phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

Các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ qui định tại Điều 99- Luật thi hành án hình sự.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục các bị cáo được thực hiện theo khoản 2 điều 100 - Luật Thi hành án Hình sự.

* Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo Trần Thị T và Đỗ Văn Đ.

2. Vật chứng:

Căn cứ: Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu số tiền 11.350.000đồng (mười một triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng) là khoản tiền Đ, T2 dùng đánh bạc với T vào ngày 11/9/2025 để xung ngân sách nhà nước.

Tịch thu bán xung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu đen, đã qua sử dụng do Đỗ Văn Đ tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra vào ngày 11/9/2025; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno5 màu đen, đã qua sử dụng thu giữ Trần Thị T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng, đã qua sử dụng, đều liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Thị T và Đỗ Văn Đ.

Tịch thu tiêu huỷ: 02 sim điện thoại số: 0983475962 và số 0389659202 thu giữ của Trần Thị T; 01 sim điện thoại số 032882822 thu giữ của Hà Thị T2; 01 sim điện thoại số 0363135268; do Đỗ Văn Đ tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra, đều liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Thị T và Đỗ Văn Đ không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;

Tiêu huỷ 01 bút bi mực xanh, vỏ bên ngoài màu trắng đã qua sử dụng được thắm sử dụng đề ghi các số lô số đề đã bán cho Đ và T2 vào ngày 11/9/2025.

Vật chứng là tiền đang được tạm giữ trong tài khoản tạm thu số 39490904414900000 tại kho bạc nhà nước khu vực VII, theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 11/11/2025. Vật chứng là đồ vật hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 7-Phú Thọ tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/12/2025.

3. Án phí:

Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Thị T, Đỗ Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc ngày bản án sơ thẩm được niêm yết tại Uỷ ban nhân dân nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a, 7b và Điều 9 uật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKS ND khu vực 7+ VKS tỉnh;
  • - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng THADS khu vực 7;
  • - Hồ sơ công tác THAHS;
  • - UBND xã Thanh Sơn;
  • - UBND xã Tân Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đào Thị Anh Nhinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-PHÚ THỌ về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trần Thị Th và đồng phạm đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger