Hệ thống pháp luật

1

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 – QUẢNG NINH

Bản án số: 14/2025/DS-ST

Ngày 22/12/2025

V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Minh Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông: Đinh Tuấn Phương

- Bà : Nguyễn Bích Thủy

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Thành Nam

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Ninh tham gia phiên

tòa: ông Đặng Đức Trung - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 19/12/2025 và ngày 22/12/2025 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hải Hà cũ (địa chỉ: khu Q, xã Q, tỉnh Quảng Ninh) tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 19/2024/TLST- DS ngày 16 tháng 10 năm 2024 về "Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-DS, ngày 02/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-DS, ngày 12/11/2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 13/2025/TB-TA, ngày 08/12/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Phạm Thị H, sinh năm 1969; nơi thường trú: khu N, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là thôn N, xã Q, tỉnh Quảng Ninh). Có mặt tại phiên tòa.
  2. Bị đơn: bà Trịnh Thị T, sinh năm 1954; nơi thường trú: bản K, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là bản K, xã Q, tỉnh Quảng Ninh). Có mặt tại phiên tòa.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Bà Đàm Diệu V, sinh năm 1976; nơi thường trú: bản K, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là bản K, xã Q, tỉnh Quảng Ninh);
    • Ông Đàm Văn H1, sinh năm 1976; nơi thường trú: bản K, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là bản K, xã Q, tỉnh Quảng Ninh);
    • Ông Đàm Vương L, sinh năm 1981; nơi thường trú: bản K, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là bản K, xã Q, tỉnh Quảng Ninh);
    • Bà Đàm Thị P, sinh năm 1982; nơi thường trú: tổ dân phố F, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng;
    • Ông Đàm Văn T1, sinh năm 1983; nơi thường trú: bản K, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là bản K, xã Q, tỉnh Quảng Ninh);
    • Ông Đàm Thành C, sinh năm 1987; nơi thường trú: bản T, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là bản T, xã Q, tỉnh Quảng Ninh);
    • Bà Đàm Thị T2, sinh năm 1962; nơi thường trú: thôn B, xã B, tỉnh Đồng Nai;
    • Ông Đàm Văn D, sinh năm 1971; nơi thường trú: thôn B, xã B, tỉnh Đồng Nai;
    • Bà Đàm Thị N, sinh năm 1969; nơi thường trú: số E N, xã B, tỉnh Lâm Đồng.

    Các ông, bà Đàm Diệu V, Đàm Văn H1, Đàm Vương L, Đàm Thị P, Đàm Văn T1, Đàm Thị T2, Đàm Văn D, Đàm Thị N đều vắng mặt tại phiên tòa và đã ủy quyền cho Bị đơn bà Trịnh Thị T. Ông Đàm Thành C có mặt tại phiên tòa, tuy nhiên vẫn ủy quyền toàn bộ cho Bị đơn bà Trinh Thị T3.

    • Ông Đàm Trường T4, sinh năm 1974; nơi thường trú: thôn A, xã V, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
    • Ông Đàm Chiến H2, sinh năm 1966; nơi thường trú: xóm N, xã H, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/6/2024 và nội dung trình bày của Nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nội dung vụ án và yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn như sau:

Nguyên đơn bà Phạm Thị H là con nhận của ông Đàm Như M và bà Trịnh Thị T. Năm 2002, bà Phạm Thị H nhận chuyển nhượng của ông M và bà T toàn bộ mảnh đất có diện tích 810,2m² (kết quả đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ diện tích 793,3m²), thửa đất số 02, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: số H phố N, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là thôn N, xã Q, tỉnh Quảng Ninh), trên đất có ngôi nhà 03 gian, mảnh đất này ông M và bà T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, nhà ở số 368 – CN/UB, ngày 11/6/1996 của UBND huyện Q cũ (nay là UBND xã Q, tỉnh Quảng Ninh, cấp tạm thời), giá chuyển nhượng là 14 triệu đồng. Bà Phạm Thị H đã thanh toán đủ số tiền 14 triệu đồng cho vợ chồng ông Đàm Như M và bà Trịnh Thị T gồm 10 triệu đồng bà H đưa cho vợ chồng ông M, bà T để trả khoản vay của ông M, bà T ở kho bạc khi đó và 4 triệu đồng bà H đưa trước cho chị Đàm Diệu V (con gái của ông M, bà T) để trả tiền ông M, bà T vay lãi ngoài. Sau khi bà H giao số tiền 10 triệu cho vợ chồng ông M, bà T, vợ chồng ông M bà T đã giao lại cho bà H toàn bộ giấy tờ gốc liên quan đến nhà, đất chuyển nhượng. Sau đó, vợ chồng ông M, bà T muốn lấy lại 1/3 mảnh đất đã chuyển nhượng cho bà H, nên đã trao đổi với bà H, bà H đồng ý với điều kiện ông M, bà T phải trả lại 4 triệu và cả hai bên cùng nhau lập Giấy bán nhà đất giấy giao tay giữa hai bên (bản gốc bà H đã nộp cho Tòa án) thể hiện nội dung thỏa thuận bà H để lại 1/3 cho vợ chồng ông M, bà T. Tuy nhiên, ông M và bà T không hoàn trả số tiền 4 triệu đồng cho bà H, nên ngày 04/10/2002 ông Đàm Như M viết Giấy nhượng nhà xác nhận việc chuyển nhượng toàn bộ nhà, đất cho bà Phạm Thị H với giá 14 triệu đồng. Từ đó đến nay bà Phạm Thị H quản lý sử dụng toàn bộ nhà, đất. Do ông M đã chết, bà T và các con không thực hiện việc sang tên nhà, đất cho bà H, vì vậy bà H khởi kiện yêu cầu xác định toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của bà H trên cơ sở công nhận giao dịch chuyển nhượng nhà, đất năm 2002 giữa vợ chồng bà T và bà có hiệu lực pháp luật.

[2] Bị đơn bà Trịnh Thị T trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa có nội dung trình bày: Nguyên đơn bà Phạm Thị H là con nhận của vợ chồng bà. Ban đầu, ông Đàm Như M chồng của bà thống nhất với bà Phạm Thị H bán lại toàn bộ nhà, đất tại thửa đất số 02, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: số H phố N, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là thôn N, xã Q, tỉnh Quảng Ninh), với giá 14 triệu đồng. Tuy nhiên sau đó bà không đồng ý, chỉ đồng ý chuyển nhượng 1/2 mảnh đất, nên sau khi bà H trả số tiền 10 triệu đồng mà vợ chồng bà đang vay ở kho bạc khi đó (vay thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 368-CN/UB cấp đất tạm thời cho ông Đàm Như M), các bên đã cầm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến UBND thị trấn Q khi đó để lập Hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất ngày 02/10/2002. Tại thời điểm đó hai bên nhờ cán bộ địa chính khi đó là ông H3 nhờ lập Hợp đồng và cả hai cùng ký vào Hợp đồng này (chưa có xác nhận của UBND thị trấn). Do số tiền bà H đưa cho vợ chồng bà để trả tiền vay ở kho bạc là 10 triệu đồng, mà thống nhất lúc ban đầu là chuyển nhượng toàn bộ nhà đất là 14 triệu đồng, nên vợ chồng bà thống nhất chuyển nhượng cho bà H 2/3 mảnh đất và ngôi nhà cấp bốn 3 gian trên đất để tương ứng với số tiền bà H đã trả cho vợ chồng bà (10/14 triệu đồng). Quá trình giải quyết vụ án, bà H có nộp bản gốc Giấy nhượng nhà ngày 04/10/2002 do ông Đàm Như M viết, bà không biết nội dung này và không biết tại sao chồng bà lại xác nhận đã nhận đủ 14 triệu đồng. Bà khẳng định vợ chồng bà mới chỉ nhận 10 triệu đồng của bà H để trả tiền vay ở kho bạc. Trước đó vợ chồng bà có vay của bà H 2 triệu đồng và 2,5 triệu đồng để sửa xe (số tiền này thời điểm đó bà H bảo bà H tự lo, còn số tiền 2 triệu đồng vợ chồng bà chưa trả cho bà H). Sau đó, vợ chồng bà cải tạo chuồng lợn trước kia (nằm trên 1/3 đất không nằm trong thỏa thuận chuyển nhượng với bà H), thành gian nhà ở để các con bà học dưới thị trấn Q ở (thời điểm đó gia đình bà T sinh sống tại xã Q). Thời điểm trước và sau khi bán cho bà H, con trai bà tên là C ở đấy cho đến khi chuyển vào H học nội trú (tại Biên bản lấy lời khai bà T khai là năm 2009, tại phiên tòa anh C và bà T xác nhận là từ năm 2003). Sau khi anh C chuyển về Hạ Long học thì vợ chồng con gái bà là chị Đàm Diệu V ở đấy được khoảng vài tháng thì chị H không cho ở đấy nữa, nên vợ chồng chị V chuyển đi. Từ năm 2003 đến nay, bà H quản lý và sử dụng toàn bộ nhà đất ở số H phố N (nhà đất bà H đã sửa chữa cải tạo khác rất nhiều so với thời điểm chuyển nhượng). Năm 2018, bà có khởi kiện đòi 1/3 diện tích đất không nằm trong nội dung thỏa thuận chuyển nhượng giữa vợ chồng bà và bà H, tuy nhiên do bà không lo được chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, bà Trịnh Thị T cung cấp thêm tài liệu chứng cứ là bản gốc Giấy bán nhà, đất giao tay không đề ngày, không có các bên ký vào Giấy bán nhà, đất giao tay này và bản gốc Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/10/2002 (các bản photo bà T đã nộp cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án)

Nay bà Phạm Thị H khởi kiện yêu cầu xác định toàn bộ quyền sử dụng mảnh đất (diện tích theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ là 793,3m²), thửa đất số 02, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: số H phố N, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là thôn N, xã Q, tỉnh Quảng Ninh), bà T không chấp nhận. Bà chỉ chấp nhận 2/3 thửa đất và tài sản trên đất thuộc quyền sử dụng của bà H như đã thỏa thuận tại Giấy bán nhà, đất giấy giao tay, còn 1/3 thửa đất giáp nhà bà B (theo sơ đồ thẩm định hiện nay giáp nhà ông T5) không nằm trong thỏa thuận chuyển nhượng vẫn thuộc quyền sử dụng của gia đình bà, bà có trách nhiệm thanh toán tiền sửa chữa ngôi nhà cấp bốn trên 1/3 diện tích đất này cho bà H.

[3] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đàm Diệu V, ông Đàm Văn H1, ông Đàm Vương L, bà Đàm Thị P, ông Đàm Văn T1, ông Đàm Thành C, bà Đàm Thị T2, ông Đàm Văn D, bà Đàm Thị N trong quá trình giải quyết vụ án đã ủy quyền toàn bộ cho bị đơn bà Trịnh Thị T. Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đàm Thành C xác nhận nội dung lời khai của bà T, đồng ý với quan điểm của bà T về việc giải quyết vụ án.

[4] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đ Chiến Hữu và ông Đàm Trường T4 có đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt và thống nhất có cùng ý kiến, quan điểm của bị đơn bà Trịnh Thị T trong việc giải quyết vụ án.

[5] Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, có xác nhận của các hộ liền kề về ranh giới thửa đất. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ liền kề (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có tọa độ), các hộ liền kề đều đã ký xác nhận ranh giới với thửa đất đang tranh chấp giữa nguyên đơn bà Phạm Thị H và bị đơn bà Trịnh Thị T, diện tích thửa đất là 793,3m² và các tài sản trên đất được thể hiện tại Sơ đồ xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/11/2024. Đồng thời, UBND huyện H trước đây này là UBND xã Q đã có văn bản trả lời liên quan đến thửa đất số 02, tờ bản đồ số 02 tại số H N, thị trấn Q tại Công văn số 860/UBND-NNMT, ngày 26/4/2025 thể hiện: “Đối chiếu quy định tại Điều 137, 138, 139 Luật đất đai năm 2024, trong trường hợp Tòa án nhân dân huyện Hải Hà xác định ai là người có quyền sử dụng thửa đất đang tranh chấp và người sử dụng đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại Điều 137, 138, 139 Luật đất đai năm 2024 thì UBND huyện H sẽ xem xét cấp giấy theo quy định.” và tại Công văn số 1070/UBND-NNMT, ngày 23/5/2025 thể hiện: “Thửa đất số 02, tờ bản đồ địa chính số 02 tại phố N, thị trấn Q hiện trạng là đất ở đô thị. Thửa đất không có kế hoạch thu hồi đất trong kỳ quy hoạch của cơ quan có thẩm quyền (đến năm 2030)...Thửa đất 02, tờ bản đồ địa chính số 02 tại phố N, thị trấn Q được quy hoạch là đất ở đô thị (ODT)... Thửa đất 02, tờ bản đồ địa chính số 02 tại phố N, thị trấn Q cơ bản được quy hoạch là đất ở đô thị, một phần quy hoạch hành lang giao thông...

[6] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 Quảng Ninh phát biểu như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm HĐXX nghị án: Vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; việc lập hồ sơ, thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật; tại phiên tòa Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm;

- Về tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự, người đại diện theo ủy quyền của các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H. Công nhận quyền sử dụng thửa đất số 02, tờ bản đồ địa chính số 02, diện tích 793,3m² tại số H thôn N, xã Q, tỉnh Quảng Ninh thuộc sở hữu của bà H, bà H được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và căn cứ vào kết quả tranh tụng, hỏi tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Quảng Ninh phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

I. Về tố tụng:

[1] Về quan hệ tranh chấp:

Nguyên đơn bà Phạm Thị H khởi kiện yêu cầu xác định quyền sử dụng 810,2m² (kết quả đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ diện tích 793,3m²), thửa đất số 02, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: số H phố N, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là thôn N, xã Q, tỉnh Quảng Ninh) thuộc quyền sử dụng của bà trên cơ sở công nhận hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng giữa bà Phạm Thị H và vợ chồng ông Đàm Như M, bà Trịnh Thị T, đây là tranh chấp về quyền sở hữu là quyền sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Về thẩm quyền: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp quyền sở hữu là quyền sử dụng đất, bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại huyện H (nay là xã Q), đối tượng tranh chấp là bất động sản ở huyện H (nay là xã Q), do đó thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Hải Hà (thời điểm khi thụ lý vụ án), nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 Quảng Ninh.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Tranh chấp quyền sở hữu đối với tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự không áp dụng thời hiệu.

[4] Xác định tư cách tham gia tố tụng: Bà Phạm Thị H khởi kiện đối với bà Trịnh Thị T, do đó bà Phạm Thị H là Nguyên đơn, bà Trịnh Thị T là Bị đơn trong vụ án. Nội dung khởi kiện liên quan đến quyền sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời cho ông Đàm Như M (chồng bà Trịnh Thị T), là tài sản chung của vợ chồng ông Đàm Như M và bà Trịnh Thị T. Do ông M chết không để lại di chúc nên các con đẻ của ông M bao gồm con chung giữa ông M, bà T và con riêng của ông M gồm: bà Đàm Diệu V, ông Đàm Văn H1, ông Đàm Vương L, bà Đàm Thị P, ông Đàm Văn T1, ông Đàm Thành C, bà Đàm Thị T2, ông Đàm Văn D, bà Đàm Thị N, ông Đàm Chiến H2 và ông Đàm Trường T4, là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

II. Về nội dung:

[1] Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trịnh Thị T đều thừa nhận có giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà giữa vợ chồng bà T và Nguyên đơn bà Phạm Thị H, tuy nhiên bà T chỉ thừa nhận giao dịch chuyển nhượng 2/3 quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị H với giá 10 triệu đồng (số tiền mua bán này bà T thừa nhận đã nhận của bà H). Như vậy có cơ sở khẳng định có giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà giữa vợ chồng bà Trịnh Thị T với bà Phạm Thị H.

[2] Theo nội dung bà Trịnh Thị T khai nhận thì ban đầu chồng bà chuyển nhượng toàn bộ nhà, đất cho bà Phạm Thị H với giá 14 triệu đồng, tuy nhiên sau đó các bên lại thống nhất chuyển nhượng ½ quyền sử dụng đất, đồng thời bà T cung cấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/10/2002, ký chuyển nhượng 1/2 quyền sử dụng đất, không có xác nhận của UBND thị trấn (bản sao Hợp đồng này do bà T cung cấp). Do số tiền bà H đưa là 10 triệu đồng nên các bên lại lập Giấy bán nhà đất giấy giao tay (bản photo bà T đã nộp cho Tòa án không có chữ ký của các bên), thể hiện nội dung thỏa thuận chuyển nhượng là 2/3 thửa đất. Chính vì vậy, bà T chỉ chấp nhận nội dung chuyển nhượng 2/3 thửa đất của bà Phạm Thị H. Bà T không thừa nhận vợ chồng bà đã nhận đủ 14 triệu đồng, nhưng tại Giấy bán nhà, đất giấy giao tay do bà T nộp cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và giao nộp bản chính tại phiên tòa thì nội dung dòng cuối lại thể hiện: “ Vậy theo giá thỏa thuận cả mảnh là 14 triệu số là 14.000.000đ vậy chia 3 số đất còn lại phải chịu tiền là 4.470”. Nội dung này thể hiện các bên có thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ nhà, đất với giá 14 triệu đồng; nội dung này cũng thể hiện việc vợ chồng bà T đã nhận đủ 14 triệu đồng nên khi thỏa thuận bà H để lại 1/3 thửa đất thì bà H mới ghi nội dung “vậy chia 3 số đất còn lại phải chịu tiền là 4.470” như trong Giấy bán nhà, đất giấy giao tay do bà T nộp

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Thị H có nộp Bản chính Giấy bán nhà đất giấy giao tay giữa hai bên (có chữ ký của bà Trịnh Thị T và bà Phạm Thị H) cũng thể hiện nội dung thỏa thuận chuyển nhượng 2/3, phù hợp với nội dung Giấy bán nhà đất giấy giao tay do bà T nộp cho Tòa án (tại phiên tòa bà H và bà T đều xác nhận chữ viết trong hai giấy này là chữ của bà H). Tuy nhiên bà T cho rằng bà H đã viết thêm nội dung vào bản chính “Số tiền đã nhận đủ 20/7/2002 âm lịch (còn 4 triệu ) hẹn 20/9 không trả thì sẽ chuyển nốt đất”, và bà H đã chỉnh sửa số 0 thành số 4 (từ số 10.000.000 đồng thành 14.000.000 đồng). Ngoài ra, bà T còn khẳng định các nội dung trong bản chính bà H nộp cho Tòa án bao gồm: “Tôi đã đồng ý bán nhà đất 2/3 và nhận đủ tiền là 10.000/00₫ giấy này viết là đúng.” (đã bị sửa 10.000.000₫ thành 14.000.000₫), “Bố mẹ làm giấy này cho con, nếu con o ở thì con bán lại nhà cho bố mẹ”, “Còn phần mẹ o ở lại để lại cho con” là do bà T viết vào giấy này, tuy nhiên chữ viết “Ngày 20/7/2002” phía trên chữ ký không phải là của bà T.

Ngoài bản chính Giấy bán nhà đất giấy giao tay giữa hai bên, bà Phạm Thị H4 còn nộp bản chính Giấy nhượng nhà do ông Đàm Như M viết (chữ viết và chữ ký của ông M tại Giấy nhượng nhà này được bà T xác nhận là chữ của ông M tại phiên tòa) có nội dung: “Tên tôi là Đàm Như M ...nay có ngôi nhà cấp 4 nhượng lại cho con gái nhận là: Phạm Thị H ...ngôi nhà 3 gian nói trên và giao tất cả số đất vườn đang sử dụng với giá thỏa thuận là 14.000.000₫ (mười bốn triệu chẵn) – Bên bán đã nhận số tiền nói trên”, và bản gốc các giấy tờ mua bán ban đầu giữa vợ chồng ông M và vợ chồng ông Trương Văn T6, bà Nguyễn Thị H5 (chủ sử dụng ban đầu của thửa đất đang tranh chấp).

Về ngày lập các văn bản tài liệu chứng cứ do Nguyên đơn và Bị đơn cung cấp liên quan đến thỏa thuận chuyển nhượng: Ngày hai bên lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (bản gốc do bà T nộp) là ngày 02/10/2002; ngày ông Đàm Như M viết tại Giấy nhượng nhà (bản gốc do bà T nộp) là ngày 04/10/2002, tuy nhiên số 04 trong giấy này có dấu hiệu sửa chữa; ngày lập Giấy bán nhà đất giấy giao tay giữa hai bên (bản gốc do bà H nộp có chữ ký của bà H và bà T) ghi ngày 20/7/2002, bà T cho rằng không phải chữ viết của bà T và nội dung “Số tiền đã nhận đủ 20/7/2002 âm lịch (còn 4 triệu ) hẹn 20/9 không trả thì sẽ chuyển nốt đất” là do bà H viết thêm; ngày lập Giấy bán nhà đất giấy giao tay (bản gốc do bà T nộp, không có chữ ký của bà H, bà T nhưng cả hai bên đều thừa nhận chữ viết trong giấy này là của bà H, có thể thấy ngày của các tài liệu này không thể hiện rõ ngày âm lịch hay dương lịch, có sự tẩy xóa hoặc không thừa nhận chữ viết, tại phiên tòa các đương sự không thống nhất về thời điểm lập các tài liệu, chứng cứ này.

Hội đồng xét xử thấy, bản photo Giấy bán nhà đất giấy giao tay bà T nộp cho Tòa án và bản chính bà H nộp cho Tòa án lập cùng thời điểm lập, đều do bà H là người viết, trong đó bản photo do bà T nộp là bản viết đầu, sau đó viết lại bản do bà H nộp cho Tòa án và các bên cùng ký vào bản này. Tuy nhiên, căn cứ vào dòng kẻ tại bản chính có thể nhận thấy nội dung “Số tiền đã nhận đủ 20/7/2002 âm lịch (còn 4 triệu ) hẹn 20/9 không trả thì sẽ chuyển nốt đất” là nội dung bà H viết thêm vào, tuy nhiên không xác định được thời điểm bà H viết thêm vào (ngay lúc lập bản chính, hay sau khi bà T ký, có mặt bà T khi viết thêm vào không). Đồng thời, theo nội dung bà T xác nhận “Tôi đã đồng ý bán nhà, đất 2/3 và nhận đủ tiền là 14 triệu đồng giấy này viết là đúng”. Hội đồng xét xử thấy có cơ sở xác định có sự chỉnh sửa từ số 0 thành số 4 do có dấu vết chỉnh sửa và do mâu thuẫn giữa nội dung bà T xác nhận với số tiền chuyển nhượng. (các bên thống nhất về việc chuyển nhượng 2/3 với giá 10 triệu thì không thể bà T lại xác nhận “Tôi đã đồng ý bán nhà, đất 2/3 và nhận đủ tiền là 14 triệu đồng giấy này viết là đúng”)

[3] Căn cứ nội dung lời khai nhận của Nguyên đơn và Bị đơn, cùng các tài liệu chứng cứ do các bên cung cấp cho Tòa án, mặc dù có những nội dung đã bị chỉnh sửa như nhận định ở trên, không xác định chính xác ngày lập các tài liệu, chứng cứ do các đương sự giao nộp, tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy giữa Nguyên đơn và Bị đơn tồn tại giao dịch chuyển nhượng, lúc thỏa thuận chuyển nhượng 1/2 quyền sử dụng đất, lúc thỏa thuận chuyển nhượng 2/3 quyền sử dụng đất với giá 10 triệu đồng, lúc thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ với giá 14 triệu đồng. Tuy nhiên căn cứ vào nội dung Giấy nhượng nhà do ông Đàm Như M tự tay viết và nội dung “Vậy theo giá thỏa thuận cả mảnh là 14 triệu số là 14.000.000đ vậy chia 3 số đất còn lại phải chịu tiền là 4.470” tại Giấy bán nhà, đất giấy giao tay do bà T nộp và nội dung Giấy bán nhà đất giấy giao tay do bà H nộp, có căn cứ xác định tại thời điểm các bên thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ thửa đất vợ chồng ông Đàm Như M và bà Trịnh Thị T đã nhận đủ số tiền 14 triệu đồng, sau đó các bên có thỏa thuận về việc bà H để lại cho vợ chồng bà T 1/3 thửa đất và vợ chồng bà T phải có trách nhiệm trả lại cho bà H 4 triệu đồng (trong giấy bản gốc bà H nộp, có chữ ký của bà H và bà T), 4.470 (đánh giá là 4.470.000 đồng tương đương 1/3 của 14 triệu đồng trong giấy bản gốc viết dở bà T nộp không có chữ ký của các bên). Mặc dù, trong quá trình giải quyết vụ án các bên không thống nhất về số tiền 4 triệu đồng, bà T khai không biết ông M nhận số tiền 04 triệu đồng khi nào, nhưng tại Biên bản lấy lời khai lại thể hiện vợ chồng bà T có nợ bà H 02 triệu đồng và 2,5 triệu đồng tiền sửa xe (số tiền này bà H có nói sẽ tự chịu), bà T không cung cấp được tài liệu chứng cứ thể hiện việc trả nợ; bà H khai đã đưa số tiền 4 triệu đồng này chị V để trả tiền vay lãi ngoài, nhưng việc ông M đã lập Giấy nhượng nhà thể hiện đã nhận đủ 14 triệu đồng (bao gồm cả 4 triệu này) và nội dung “Vậy theo giá thỏa thuận cả mảnh là 14 triệu số là 14.000.000đ vậy chia 3 số đất còn lại phải chịu tiền là 4.470” tại Giấy bán nhà đất giấy giao tay do bà T nộp, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để xác định bà H đã đưa đủ số tiền 14 triệu đồng cho vợ chồng bà T.

Như vậy có cơ sở khẳng định vợ chồng bà T đã bán toàn bộ nhà đất cho bà H với giá 14 triệu đồng và đã nhận đủ 14 triệu đồng, tuy nhiên sau đó các bên thống nhất là bà H sẽ để lại 1/3 thửa đất cho vợ chồng bà T với điều kiện vợ chồng bà T phải trả lại cho bà H 4 triệu đồng nhưng vợ chồng bà T không thực hiện nên các bên không tiếp tục thực hiện thỏa thuận để lại 1/3 thửa đất. Do đó, vợ chồng bà T mới để bà H quản lý sử dụng thửa đất từ năm 2003 đến nay.

[4] Về quá trình sử dụng đất: Theo nội dung lời khai có sự thống nhất của các đương sự (bao gồm cả việc xác nhận thời gian anh C chuyển vào H học bán trú), thì có thể thấy: sau khi có sự thỏa thuận thống nhất về việc mua bán nhà, đất vào năm 2002, con trai bà T ông M là anh Đàm Thành C ở tại ngôi nhà (cải tạo từ chuồng lợn) đến năm 2003 thì chuyển vào H học bán trú. Sau đó vợ chồng chị Đàm Diệu V ở tại ngôi nhà này khoảng vài tháng thì chuyển. Từ năm 2003 đến nay bà Phạm Thị H quản lý sử dụng toàn bộ nhà, đất tại số H phố N thị trấn Q huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là thôn N, xã Q, tỉnh Quảng Ninh). Việc quản lý sử dụng nhà, đất của bà Phạm Thị H còn được chính quyền địa phương xác nhận từ thời điểm bà H còn ở nhờ nhà vợ chồng bà Trịnh Thị T.

[5] Về hình thức giao dịch dân sự: Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật tại thời điểm các bên xác lập giao dịch cũng như tại thời điểm này đều phải lập thành hợp đồng công chứng chứng thực, tuy nhiên việc xác lập giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Phạm Thị H và vợ chồng bà T đã thực hiện toàn bộ, bên bán đã bàn giao nhà đất và đã nhận đủ tiền (14 triệu đồng theo thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ nhà, đất), bên mua đã quản lý nhà đất từ năm 2003 đến nay (hơn 20 năm), do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015, vi phạm hình thức của giao dịch không ảnh hưởng đến hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng.

[6] Căn cứ vào nội dung đã phân tích tại mục [1], [2], [3], [4] và mục [5], Hội đồng xét xử thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

[7] Về chi phí tố tụng, án phí: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền là 7.500.000 đồng, nên Hội dồng xét xử không đề cập.

Về án phí: Bị đơn bà Trịnh Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định, tuy nhiên bà T là người cao tuổi (71 tuổi), nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 91; khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Khoản 2 Điều 129; Khoản 2, khoản 3 Điều 155; Điều 158; khoản 2 Điều 221; Điều 223; khoản 1 Điều 237; Điều 238 của Bộ luật Dân sự;
  • - Khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai;
  • - Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Phạm Thị H: bà Phạm Thị H được quyền sử dụng thửa đất số 02, tờ bản đồ địa chính số 02, diện tích 793,3m² được giới hạn bởi các điểm 1-2-3-4-5-6-7-8-1 trong Sơ đồ xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/11/2024 (trong đó có 150m² đã được tạm thời cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, nhà ở số 368-CN/UB do UBND huyện Q cấp 11/6/1996 mang tên ông Đàm Như M), địa chỉ: số H phố N, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là thôn N, xã Q, tỉnh Quảng Ninh).

[2] Về chi phí tố tụng: Bà Phạm Thị H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, nên không đề cập.

[3] Về án phí: Bà Trịnh Thị T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được miễn án phí theo quy định của pháp luật. Trả lại cho Nguyên đơn bà Phạm Thị H số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hà (nay là Phòng thi hành án khu vực 6 - Quảng Ninh), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005189, ngày 11/10/2024.

Nguyên đơn, Bị đơn, Người đại diện theo ủy quyền của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Kèm theo Bản án này là Sơ đồ xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/11/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND khu vực 6 -Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh ;
  • - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Minh Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/DS-ST ngày 22/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – QUẢNG NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 14/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Phạm Thị H: bà Phạm Thị H được quyền sử dụng thửa đất số 02, tờ bản đồ địa chính số 02, diện tích 793,3m² được giới hạn bởi các điểm 1-2-3-4-5-6-7-8-1 trong Sơ đồ xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/11/2024 (trong đó có 150m² đã được tạm thời cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, nhà ở số 368-CN/UB do UBND huyện Q cấp 11/6/1996 mang tên ông Đàm Như M), địa chỉ: số H phố N, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là thôn N, xã Q, tỉnh Quảng Ninh).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger