|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2025/DS-PT Ngày 09 tháng 01 năm 2026 V/v “Kiện đòi quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình.
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết; Bà Ngọ Thị Thanh Hảo.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06/01/2026 và ngày 09/01/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 337/2025/TLPT-DS ngày 10/11/2025 về việc “Kiện đòi quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 27/2025/DSST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 116/2025/QĐPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1975 (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1971 (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1993 (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1992 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1971 (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Tiến M1, sinh năm 1997 (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1998 (vắng mặt).
- Bà Bùi Thị P, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà T1, anh T, chị L1: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1971 (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà P, anh M1 và chị Y là ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1975 (có mặt).
Các đương sự cùng địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh).
Do có kháng cáo của Ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án dân sự sơ thẩm số: 27/2025/DSST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn M bày: Thửa đất số 32, tờ bản đồ số 21, có diện tích 1014,4m² tại thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh) được Ủy ban nhân dân huyện Y (cũ), tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn C là bố đẻ ông M. Nguồn gốc thửa đất này là đất lịch sử do các cụ để lại cho các đời con cháu, đến đời ông M là đời thứ 8 được quản lý, sử dụng. Đến năm 2004, ông C làm thủ tục chia tách thửa đất trên thành 3 thửa như sau:
- Thửa đất số 32a, tờ bản đồ số 21, có diện tích 360m² tại thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh) được Ủy ban nhân dân huyện Y (cũ), tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/9/2004 mang tên ông Nguyễn Văn M (giáp thửa 256 nhà anh T).
- Thửa đất số 32b, tờ bản đồ số 21, có diện tích 207m² tại thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh) được Ủy ban nhân dân huyện Y (cũ), tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/9/2004 mang tên ông Nguyễn Văn M.
- Thửa đất số 32c, tờ bản đồ số 21, có diện tích 447,4 m² tại thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh) được Ủy ban nhân dân huyện Y (cũ), tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/9/2004 mang tên ông Nguyễn Văn M.
Khoảng năm 1999, gia đình ông L có xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4 để sinh sống trên thửa đất này. Ông M cho rằng kể từ khi làm nhà, ông L có làm móng, xây dựng tường chồng lấn sang phía diện tích đất tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số 21 của nhà ông M. Đến khoảng năm 2018 và năm 2024, nhà ông L tiếp tục xây dựng chồng lấn sang diện tích đất tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số 21 của nhà ông M. Sau khi ông M phát hiện nhà ông L xây nhà có lấn sang đất nhà ông thì ông có làm đơn ra UBND xã.
Đến ngày 17/10/2024 UBND xã Đ (cũ) tiến hành hòa giải về việc tranh chấp đất đai giữa gia đình ông và gia đình ông L, kết luận như sau:
- Qua đo đạc kiểm tra diện tích đất nhà ông M và nhà ông L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích không thay đổi.
- Phần tường tại vị trí 1 có chiều rộng khoảng 20cm x 20cm và vị trí 2 có chiều rộng khoảng 15cm x 20cm của gia đình nhà ông L hiện nay nằm của hộ gia đình ông M. Kết luận nhà ông L xây dựng chồng lấn sang diện sang đất tích đất nhà ông M và ông L phải phá dỡ công trình xây dựng chồng lấn sang nhà ông M. Cả hai bên gia đình nhà ông M và nhà ông L đã nhất trí với kết luận này của UBND xã Đ (cũ). Tuy nhiên ông L không thực hiện việc phá dỡ công trình xây dựng chồng lấn trên đất nhà ông M.
Ông M khởi kiện yêu cầu gia đình ông L phải trả cho gia đình ông M khoảng 3m, chiều dài khoảng 15m, chiều rộng khoảng 20cm là phần diện tích mà nhà ông L xây dựng lấn chiếm sang đất nhà ông M và buộc nhà ông L, anh T2 chị L1 phải tháo dỡ công trình xây dựng lấn chiếm sang diện tích đất nhà ông M.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn L trình bày: Thửa đất số 256, tờ bản đồ số 21, diện tích 96,3m² tại thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh được Ủy ban nhân dân huyện Y (cũ), tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/11/2019 mang tên anh Nguyễn Thành T. Anh T là con trai ông L. Nguồn gốc thửa đất này là do vợ chồng ông L và bà Nguyễn Thị T1 ra ở từ khoảng năm 1991 khi đó là đất ao vườn, đến năm 1999 sau khi hợp thức hóa thì làm nhà. Đến năm 2002, Ủy ban nhân dân huyện Y (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của vợ chồng ông mua với tổng diện tích khoảng gần 300m².
Đến năm 2019, vợ chồng ông L, bà T1 làm thủ tục chia tách thửa đất trên thành 3 phần đất cho 2 con trai là Nguyễn Thành T, sinh năm 1993, Nguyễn Thành L2, sinh năm 1995. Trong đó anh T được sử dụng 02 thửa là thửa đất số 258, tờ bản đồ số 21, diện tích 82,2m² và thửa đất số 256, tờ bản đồ số 21, diện tích 96,3m² tại thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Anh L2 được sử dụng thửa đất số 257, tờ bản đồ số 21, diện tích 84,8m² tại thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Khi vợ chồng ông L, bà T1 làm thủ tục tách chia thửa đất thành 03 phần, ông M có ký giáp ranh thửa đất. Trong đó, thửa đất số 256, tờ bản đồ số 21, diện tích 96,3m² giáp với thửa đất 32a của vợ chồng ông M, bà P. Hiện nay gia đình ông L, bà T1 và gia đình anh T, chị L1 vẫn đang sống trên thửa đất số 256, tờ bản đồ số 21, diện tích 96,3m². Trên thửa đất có 01 ngôi nhà trần 04 tầng do vợ chồng ông xây dựng.
Ông M cho rằng thửa đất 256, tờ bản đồ số 21, diện tích 96,3m² hiện nay đang lấn chiếm phần đất có diện tích 3m chiều dài 15m, chiều rộng khoảng 20cm. Quan điểm của ông L cho rằng khi nhà ông xây nhà 4 tầng phần trụ cột của móng nhà, phần bê tông bên trên mặt nền nhà và phần tường gạch xây bao quanh trụ cột có một phần bị lấn sang phần đất của gia đình ông M khoảng gần 1m chứ không phải 3m như ông M trình bày. Vì vậy ông L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông M và đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan bà P, anh M1, chị Y trình bày: Đồng ý với phần trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông M, yêu cầu ông L trả cho gia đình ông M, bà Phương diện T3 đất bị lấn chiếm khoảng 3m đất tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số 21 tại thôn G, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà T1, anh T, chị L1: Đồng ý với phần trình bày và quan điểm của ông L, đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đang tranh chấp theo yêu cầu của đương sự.
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, hiện trạng sử dụng của các thửa đất đang tranh chấp như sau.
- Thửa đất số 256, tờ bản đồ số 21 tại thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh được Ủy ban nhân dân huyện Y (cũ), tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/11/2019 mang tên anh Nguyễn Thành T. Qua đo đạc thực tế thửa đất có diện tích 96,3m². Thửa đất có tứ cận:
- Phía Đông giáp thửa đất số 257 của nhà anh Nguyễn Thành L2.
- Phía Tây giáp nhà ông Nguyễn Văn M.
- Phía Nam giáp nhà ông Nguyễn Văn L3.
- Phía Bắc giáp đường đi.
- Thửa đất số 32, tờ bản đồ số 21, tại thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh được Ủy ban nhân dân huyện Y (cũ), tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn C là bố đẻ ông M. Qua đo đạc thực tế thửa đất có diện tích 1014,4m². Thửa đất có tứ cận:
- Phía Đông giáp nhà ông Nguyễn Văn L3.
- Phía Tây giáp ngõ.
- Phía Nam giáp nhà ông Nguyễn Văn K.
- Phía Bắc giáp đường đi.
Theo biên bản định giá của Hội đồng định giá kết luận: Đơn giá thửa đất số 256, tờ bản đồ số 21 tại thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh có giá thực tế ở địa phương tại thời điểm định giá là 20.000.000 đồng/m²; Đơn giá thửa đất số 32, tờ bản đồ số 21, tại thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh có giá thực tế ở địa phương tại thời điểm định giá là 20.000.000 đồng/m²; Đơn giá phần đất giáp phần đất tranh chấp giữa hai thửa đất số 256 và 32 tại thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh là 20 triệu đồng/m².
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông L và vợ chồng anh Nguyễn Thành T chị L1 phải trả phần đất lấn chiếm có diện tích là 3m², chiều dài 15m, chiều rộng 20cm và phá dỡ công trình đã lấn sang.
Bị đơn là ông L đại diện không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đồng ý phá dỡ phần móng quanh trụ và cột nhà khi làm nhà lấn chiếm nhà ông M 0,72m² như hồ sơ đo đạc hiện trạng.
Từ những nội dung trên Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh đã căn cứ vào các Điều 115; 155; 158; 166, 175; 176; 579 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 166, 170, 202, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 26, Điều 35, Điều 39, 147, 157, 158, 165, 166, 184, 248, 260, 264, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Nguyễn Văn L và vợ chồng anh T chị L1 phải trả lại gia đình ông Nguyễn Văn M phần đất tại móng nhà đã lấn sang là 0,72m² và phá dỡ phần đã lấn sang có kích thước cụ thể: vị trí 1 cột nhà ký hiệu là đoạn từ A đến B theo hồ sơ đo đạc thửa đất 256 tờ bản đồ số 21 sang thửa 32a tờ bản đồ 21 là (0.14m x 0.80m x 0.10m) cao 0.60m diện tích bằng 0.11m² vị trí đo đạc ký hiệu cột C thì thửa 256 lấn sang thửa 32 là 0.10m, chiều dài 11.02m, cao 0.60m diện tích bằng 0.61m². Tại thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, nay là thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh (có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí Tòa án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bị đơn ông Nguyễn Văn L kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong phần tranh luận, các đương sự không trình bày, tranh luận gì, đề nghị hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Văn L. Giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm 27/2025/DSST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 02/2025/QĐST-DS ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bị đơn ông Nguyễn Văn L trong thời hạn, đã thực hiện các thủ tục theo quy định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án sơ thẩm xác định về quan hệ “kiện đòi quyền sử dụng đất” và thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh là đúng theo quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nguồn gốc đất:
[2.1] Thửa đất số 32, tờ bản đồ số 21, có diện tích 1014,4m² tại thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh) được Ủy ban nhân dân huyện Y (cũ), tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn C là bố đẻ ông M. Nguồn gốc thửa đất này là đất lịch sử do các cụ để lại cho các đời con cháu, đến đời ông M là đời thứ 8 được quản lý, sử dụng. Đến năm 2004, ông C làm thủ tục tục chia tách thửa đất trên thành 3 thửa như sau:
- Thửa đất số 32a, tờ bản đồ số 21, có diện tích 360m² tại thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh) được Ủy ban nhân dân huyện Y (cũ), tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/9/2004 mang tên ông Nguyễn Văn M.
- Thửa đất số 32b, tờ bản đồ số 21, có diện tích 207m² tại thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh) được Ủy ban nhân dân huyện Y (cũ), tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/9/2004 mang tên ông Nguyễn Văn M.
- Thửa đất số 32c, tờ bản đồ số 21, có diện tích 447,4m² tại thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh) được Ủy ban nhân dân huyện Y (cũ), tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/9/2004 mang tên ông Nguyễn Văn M.
[2.2] Thửa đất số 256, tờ bản đồ số 21, diện tích 96,3m² tại thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn P, xã T, tỉnh Bắc Ninh) được Ủy ban nhân dân huyện Y (cũ), tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/11/2019 mang tên anh Nguyễn Thành T. Anh T là con trai ông Nguyễn Văn L. Nguồn gốc thửa đất này là do vợ chồng ông L và bà Nguyễn Thị T1 mua từ khoảng năm 1999, khi mua là đất ao vườn. Đến năm 2002, Ủy ban nhân dân huyện Y (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của vợ chồng ông L mua với tổng diện tích khoảng gần 300m².
[3] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì ranh giới, mốc giới giữa hai thửa đất số 32 và thửa đất số 256 không thay đổi so với hồ sơ cấp đất. Khi gia đình ông L làm nhà, đổ cột và đổ móng nhà, khi đầm nền nhà có ùn phần bê tông chảy sang nhà ông M. Gia đình ông L đã xây gạch bao quanh phần này còn phần cột nhà và tường vẫn giữ nguyên. UBND xã đã tiến hành hòa giải hai lần vào ngày 17/10/2024 và 06/11/2024, cũng tại biên bản hòa giải ngày 17/10/2024 hộ ông L đồng ý phá dỡ phần bê tông chảy sang và phần tường gạch xây bao quanh bên trên nền nhà của nhà ông M. Do đó, có căn cứ để xác định rằng khi xây dựng nhà thì phần móng bê tông của gia đình ông L đã đổ lấn sang diện tích đất của gia đình ông M. Vụ việc đã được U, gia đình ông L đã thừa nhận và tự nguyện phá dỡ phần móng đổ sang nhà ông L. Tuy nhiên, đến nay gia đình ông L vẫn chưa tự nguyện việc phá dỡ. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông M là có căn cứ cần chấp nhận.
[4] Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả do vẽ hiện trạng thì phần móng nổi trên mặt đất tại vị trí hai cột nhà tầng trên thửa đất số 256 tờ bản đồ 21 của nhà ông ông L có chảy bê tông sang thửa đất số 32 tờ bản đồ 21 nhà ông M. Qua đo đạc thực tế thì thấy diện tích hai thửa đất số 256 và thửa đất số 32 giữa nhà ông M và ông L không có gì thay đổi. Kết quả đo vẽ xác định ông L khi làm móng nhà, đổ cột có lấn sang thửa đất số 256 là 0,72m², cụ thể:
Vị trí 1 cột nhà ký hiệu là đoạn từ A đến B thì thửa đất số 256 lấn sang thửa đất số 32 là (0.14m x 0.80m x 0.10m) cao 0.60m diện tích bằng 0.11m²;
Vị trí đo đạc ký hiệu cột từ điểm B đến C thì thửa đất số 256 lấn sang thửa đất số 32 là 0.10m, chiều dài 11.02m, cao 0,60m diện tích bằng 0.61m².
Do đó, bản án sơ thẩm xác định gia đình ông L khi xây nhà đã xây phần móng nổi lấn sang nhà ông M tổng diện tích 0,72m² là có căn cứ.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bị đơn ông Nguyễn Văn L kháng cáo toàn bộ bản án, tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa ngoài lời trình bày của ông M và ông L không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào mới chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ, do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông M và ông L, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Các đương sự phải chịu án phí án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm 27/2025/DSST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 02/2025/QĐST-DS ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Văn L. Giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm 27/2025/DSST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 02/2025/QĐST-DS ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- 2.1. Ông Nguyễn Văn M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000887 ngày 26/9/2025 tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 7 – Bắc Ninh.
- 2.1. Ông Nguyễn Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000862 ngày 24/9/2025 tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 7 – Bắc Ninh.
- Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm 27/2025/DSST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 02/2025/QĐST-DS ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Bình |
Bản án số 14/2025/DS-PT ngày 09/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về kiện đòi quyền sử dụng đất
- Số bản án: 14/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kiện đòi quyền sử dụng đất giữa Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Minh, sinh năm 1975; Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Lâm, sinh năm 1971
