|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Bản án số: 139/2025/HS-PT Ngày: 29/12/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thu.
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết và ông Nguyễn Ngọc Chung.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thanh Ngân - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Thân Thanh Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 204/2025/TLPT-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Ngô Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 31/2025/HSST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh.
Bị cáo có kháng cáo: Ngô Văn T, sinh năm 1982; Nơi ĐK HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố Đ, phường P, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; con ông: Ngô Thế C, sinh năm 1958 và bà Thân Thị D, sinh năm 1958; vợ: Hoàng Thị H, sinh năm 1984; con: có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án: Có 02 tiền án.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17 ngày 27/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt T 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” và 15 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt buộc T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 27 tháng tù. (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2019).
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05 ngày 13/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt T 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2023). Tính đến thời điểm phạm tội mới T chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an tỉnh B; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 9 giờ 45 phút, ngày 09/12/2024, tại nhà nghỉ H2, thuộc thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh), Nguyễn Văn H1 sinh năm 1996, trú tại thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là Tổ dân phố Đ, phường P, tỉnh Bắc Ninh) đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,846 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy, Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là Công an tỉnh B) bắt quả tang, thu giữ số ma túy nêu trên. Khám xét khẩn cấp nơi ở của H1 thu giữ 0,046 gam ma túy, loại Methamphetamine. Về nguồn gốc số ma túy trên, H1 khai mua của Ngô Văn T sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là Tổ dân phố Đ, phường P, tỉnh Bắc Ninh) vào ngày 08/12/2024 với mục đích để sử dụng.
Cùng ngày 09/12/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngô Văn T. Quá trình khám xét, thu giữ trên người Trưởng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám, số I: 353313079120036, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KX3”, số tiền: 49.000.000 đồng; thu giữ trong phòng ngủ của T: 01 đầu thu dữ liệu Camera màu đỏ-đen, số pin: 1.0.01.01.126240037, loại máy: @Jhua, được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu “KX2”; 01 bình gas gắn với đèn khò; 01 chai nhựa có nắp đậy màu xanh gắn với đoạn ống hút màu xanh, trắng, đỏ; 01 lọ thủy tinh có nắp màu xanh gắn với cóong thủy tinh, bên trong có chất màu đen (nghi là ma túy), được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu “KX1”.
Cùng ngày 09/12/2024, Cơ quan điều tra ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Ngô Văn T và tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của T. Kết quả xét nghiệm: Dương tính với ma túy Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 2667, ngày 17/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là Công an tỉnh B) kết luận: Chất màu đen đựng trong cóong thủy tinh màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KX1” của Ngô Văn T là ma túy, loại ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,038 gam.
Về nguồn gốc số ma túy trên T khai: T là người nghiện chất ma túy, ngày 05/12/2024 T từ nhà đi lên thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là phường C, tỉnh Bắc Ninh) tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến thị trấn C, T đã nhờ một người đàn ông xe ôm mua hộ 300.000 đồng tiền ma túy đá. Người đàn ông cầm tiền T đưa và điều khiển xe máy đi, một lúc sau người này quay lại đưa cho T 01 túi nilon bên trong chứa ma túy đá và 01 mảnh viên nén ma túy ngựa. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà và cho toàn bộ số ma túy trên vào trong cóong thủy tinh rồi đốt để sử dụng bằng hình thức hít, T đã sử dụng được 2-3 khói, phần ma túy còn lại trong cóong thủy tinh, T cất vào trong phòng ngủ mục đích để sử dụng tiếp.
Trưởng xác định ngày 08/12/2024 T không được bán ma túy cho Nguyễn Văn H1. Tiến hành cho T và H1 đối chất, cả hai vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của H1, không có tài liệu, chứng cứ nào khác xác định T bán ma túy cho H1. Do vậy không có căn cứ xử lý đối với Ngô Văn T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Với nội dung trên, bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2025/HSST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T 01 năm 06 tháng tù. Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/10/2025, bị cáo Ngô Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử là đúng tuy nhiên bị cáo cho rằng mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là cao. Ngoài ra bị cáo còn trình bày gia đình bị cáo có bố là Ngô Thế C và ông ngoại là Trần Văn T1 là người có công với cách mạng tuy nhiên do bị cáo đang bị tạm giam nên chưa giao nộp vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào nội dung kháng cáo của bị cáo tại phiên tòa, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Ngô Văn T có kháng cáo hợp lệ nên được chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
Ngô Văn T là người đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích. Ngày 09/12/2024 tại thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là Tổ dân phố Đ, phường P, tỉnh Bắc Ninh), T đã có hành vi tàng trữ 0,038 gam ma túy, loại Methamphetamine ở trong phòng ngủ của mình với mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là Công an tỉnh B) khám xét thu giữ. Do vậy, bản án sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Ngô Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Xét kháng cáo của bị cáo Ngô Văn T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Mặc dù tại phiên toà phúc thẩm bị cáo có trình bày ông ngoại và bố và bị cáo là người có công với cách mạng nhưng hiện gia đình bị cáo chưa giao nộp tài liệu này nên không có cơ sở để xem xét. Hơn nữa án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là phù hợp, không nặng. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo nên giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Đối với phần quyết định của án sơ thẩm không tuyên tạm giữ tài sản, đồ vật đã thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự:
-
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn T; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Ngô Văn T 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 10/12/2024.
Áp dụng Điều 347 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Ngô Văn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải Ngô Văn T chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đặng Văn Quyết Nguyễn Ngọc C1 |
Nguyễn Thị Minh T2 |
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Thu |
Bản án số 139/2025/HS-PT ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 139/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn T - TTTPCMT
