Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN

Bản án số: 133/2025/HS-ST

Ngày: 30/12/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Tô Thị Thanh Tâm
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Trang

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại 02 điểm cầu: điểm cầu Trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên; địa chỉ số H H, phường T, tỉnh Hưng Yên và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên; địa chỉ thôn L, xã V, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 107/2025/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Ngọc T, sinh năm 1987; nơi cư trú: số nhà E đường T, tổ B K, phường T, tỉnh Hưng Yên; Căn cước công dân số [...]; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Trần Ngọc L, sinh năm 1959 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1958; tiền án: bản án số 13/HSST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: không; nhân thân: Quyết định số 1776/QĐ-UBND ngày 21/9/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 02 năm, chấp hành xong ngày 22/7/2012; bị bắt tạm giữ từ ngày 24/9/2025, đến ngày 30/9/2025 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh H; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

  • - Ông Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973; nơi cư trú: số nhà F đường N, tổ D, phường V, tỉnh Hưng Yên.
  • - Ông Dương Ngọc H1, sinh năm 1985; nơi cư trú: số nhà E, ngõ C đường L, tổ E B, phường T, tỉnh Hưng Yên.

(ông V, ông H1 vắng mặt)

* Điểm cầu thành phần:

  1. Những người tiến hành tố tụng:
    • 1.1 Ông Lương Duy L1 - Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.
    • 1.2 Ông Đỗ Mạnh H2 và ông Vũ Minh H3 - Thư ký, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.
  2. Những người tham gia tố tụng:

    Bị cáo: Trần Ngọc T

  3. Những người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Đức T1 và ông Đặng Quốc H4 - Cán bộ Phân trại tạm giam Thái Bình, Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 24/9/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo Trần Ngọc T thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết đi từ nhà đến khu vực cầu P thuộc phường T, tỉnh Hưng Yên để mua ma túy. Đến nơi, bị cáo xuống xe bảo người đàn ông đứng chờ rồi đi bộ, gặp và mua 01 gói ma túy, loại Heroin được gói bằng giấy bạc của người phụ nữ, không biết tên, địa chỉ với giá 200.000 đồng. Bị cáo cầm gói ma túy bỏ vào túi quần bên trái phía trước đang mặc, đi ra chỗ xe ôm đứng đợi, chở đến khu vực đê sông T, bị cáo xuống xe, trả tiền xe ôm rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo đi đến đường đê tả sông T thuộc tổ B K, phường T, tỉnh Hưng Yên, bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H phối hợp với Công an phường T phát hiện nghi vấn có liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Dương Ngọc H1 và ông Nguyễn Tiến V bị cáo đã tự giác lấy từ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng cục, bị cáo khai là ma túy, loại H5 vừa mua để sử dụng (kết quả giám định là ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,3116 gam). Sau đó, Tổ công tác đưa bị cáo cùng tang vật và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường T, tỉnh Hưng Yên lập biên bản phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ theo quy định của pháp luật.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Trần Ngọc T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì.

  • - Kết luận giám định số 1313/KL-KTHS ngày 29/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,3116 gam.
  • - Kết luận giám định số 1312/KL-KTHS ngày 29/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Trong mẫu nước tiểu gửi giám định không tìm thấy ma túy, sản phẩm chuyển hóa của ma túy.

Bản Cáo trạng số 55/CT-VKSKV5 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên truy tố bị cáo Trần Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Ngọc T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 xử phạt bị cáo Trần Ngọc T từ 03 năm 03 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/9/2025. Phạt bổ sung đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng nộp Ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy số ma tuý quản lý của bị cáo được hoàn trả sau giám định.

Bị cáo Trần Ngọc T không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Ngọc T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ tại trụ sở Công an phường T, tỉnh Hưng Yên; các kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh H... cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 15 giờ 30 phút ngày 24/9/2025, tại khu vực đường đê tả sông T thuộc địa phận tổ B K, phường T, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Trần Ngọc T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,3116 gam ma túy, loại Heroin mục đích để sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra sau ngày 01/7/2025, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 4 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 thì hành của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

c) Heroine, C, M, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Trần Ngọc T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý. Ma tuý là chất gây nghiện, làm suy yếu sức khoẻ con người, gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt cho đời sống kinh tế cũng như đạo đức xã hội. Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nhân thân đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc song bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tại các giai đoạn tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Trần Ngọc T, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm minh như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời là bài học phòng ngừa tội phạm chung.

Xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần vi phạm pháp luật nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền để tăng cường tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy quản lý của bị cáo Trần Ngọc T hoàn lại sau giám định, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc ma túy: bị cáo Trần Ngọc T khai mua của người phụ nữ không biết tên, địa chỉ tại khu vực cầu Phúc Khánh thuộc địa phận phường T, tỉnh Hưng Yên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với người đàn ông lái xe ôm chở bị cáo, bị cáo không quen biết và cũng không nói cho người lái xe ôm biết mục đích của bị cáo là đi mua ma túy về sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H không có căn cứ để xác minh, xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo Trần Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 106, Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/9/2025.

    Phạt bổ sung bị cáo Trần Ngọc T số tiền 5.000.000 đồng nộp Ngân sách Nhà nước.

  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Ngọc T hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ghi số: 1313/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh H.

    (Vật chứng đã được chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – tỉnh Hưng Yên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/12/2025).

  4. Về án phí: Bị cáo Trần Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/12/2025).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND khu vực 5;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - CQ CSĐT, THAHS Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại TG số 02 Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - THA dân sự tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 133/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger