TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 132/2025/DS-PT Ngày 22/12/2025 “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Hữu Tăng
Các Thẩm phán: Ông Chu Tuấn Vương và bà Nguyễn Thị Kim Hằng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên: Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 141/2025/TLPT-DS, ngày 07 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DS-ST, ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1958 (có mặt)
Địa chỉ: Số nhà F, Ngõ H, phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là số nhà F, Ngõ H, phố L, phường T, tỉnh Hưng Yên).
* Bị đơn: Ông Đỗ Đức T1, sinh năm 1955 (có mặt)
Đều có địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã Đ, tỉnh Hưng Yên).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Vũ Ngọc T2 - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. (có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Giang Thị Q, sinh năm 1967(có mặt)
- Anh Đỗ Đức D, sinh năm 1991(có mặt)
- Chị Đỗ Thị Ánh H, sinh năm 1993(có mặt)
Đều có địa chỉ: Thôn C, xã Đ, tỉnh Hưng Yên.
*Người kháng cáo: Ông Đỗ Đức T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Đỗ Văn T trình bày: Khi bố ông là cụ Đỗ Văn T3 còn sống, bố ông là người đứng ra mua của ông Trần Văn C một thửa đất và nhà ở có giấy chuyển nhượng viết tay ngày 30/3/1984 (căn nhà hiện vẫn còn). Giấy chuyển nhượng có xác nhận của Chủ tịch UBND xã ký, xác nhận và đóng dấu ngày 02/4/1984 (giấy này hiện anh trai ông là ông Đỗ Văn T4 đang quản lý), thửa đất số 204 tờ bản đồ số 03 bản đồ 299/TTg có diện tích 850m² tại thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã Đ, tỉnh Hưng Yên). Ông là người bỏ ra 80% số tiền để bố ông mua thửa đất và đứng tên ông trên bản đồ 299/TTg. Thời điểm mua thửa đất ông đang ở Bulgaria, cuối năm 1984 ông về phép và trả hết số tiền mua thửa đất. Bố ông chỉ là người đại diện đứng ra làm thủ tục mua thửa đất đó, mẹ ông là người trông coi thửa đất. Sau khi ông Đỗ Văn T4 xây dựng gia đình với bà Giang Thị Q thì bố ông có bảo anh chị ấy lên đất đó ở thì ông không biết lúc đó ông vẫn đang lao động tại nước ngoài. Cuối năm 1991, ông về nước mua đất ở thành phố T đến năm 2009 thì chuyển khẩu đến thành phố T. Vì chưa có nhu cầu sử dụng diện tích đất đó nên ông vẫn để gia đình ông T4 sinh sống trên thửa đất đó. Năm 2007, khi nhà nước thực hiện việc đo đạc hiện trạng thì ông T4 đã đứng ra kê khai người sử dụng và được thể hiện tại thửa số 274, tờ bản đồ số 12, có diện tích 775,3m² (đo đạc ngày 06/4/2007). Việc ông T4 kê khai là không đúng khi chưa được sự đồng ý của ông vì ông chưa làm thủ tục chuyển nhượng hay cho tặng ông T4 và bà Q. Theo bản đồ 299/TTg thì ông vẫn là chủ sử dụng diện tích đất 850m² tại thửa 204, tờ bản đồ số 03.
Nay bố mẹ ông đã chết, ông cùng với 7 anh chị em đã bàn bạc lập biên bản họp gia đình lần 1 ngày 18/5/2024, lần 2 ngày 02/6/2024 thống nhất lấy 250m² tại thửa 204, tờ bản đồ số 03, bản đồ 299/TTg diện tích 850m² không bao gồm phần chỉ giới đường theo quy định chiều rộng 10m tính từ giáp nhà ông Đ về phía Đông, chiều sâu 25m trong đó có 180m² đất ở và 70m² đất trồng cây lâu năm, phần còn lại ông có trách nhiệm chuyển nhượng sang tên cho anh trai ông là ông T4 180m² gồm đất ở và đất cây lâu năm.
Ông đã tiến hành làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD đất với Văn phòng đăng ký đất đai huyện T đến đo đất và đã có trích lục bản đồ ngày 08/7/2024. Đến ngày 15/7/2024 ông T4 đổi ý không thực hiện theo biên bản đã họp gia đình và có những lời lẽ xúc phạm anh em trong gia đình. Các bên đã tiến hành hòa giải tại gia đình và được chính quyền địa phương tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai nhưng không thành nên ông làm đơn khởi kiện ra Tòa án.
Quá trình giải quyết vụ án ông rất muốn hai bên hòa giải, theo hướng mà 7 anh em trong gia đình đã thống nhất để giữ tình cảm anh em trong gia đình, để bố mẹ các ông được yên lòng, anh em con cháu đoàn kết, có nơi để thờ cúng hương hỏa, là nơi để các anh em con cháu đi về. Tuy nhiên, ông T4 không nhất trí nên ông yêu cầu Tòa án buộc ông Đỗ Văn T4 phải trả lại cho ông toàn bộ thửa đất số 204, tờ bản đồ số 3 bản đồ 299/TTg hiện tại là thửa đất 274, tờ bản đồ số 12 tại thôn C, xã C, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã Đ, tỉnh Hưng Yên).
2. Bị đơn ông Đỗ Đức T1 là bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Giang Thị Q trình bày: Về nguồn gốc của thửa đất đang tranh chấp do bố đẻ Đỗ Văn T3 mua của ông Trần Văn C năm 1984 sau cho ông bà sử dụng từ năm 1990 đến nay. Việc mua bán chuyển nhượng giữa ông Trần Văn C (đã chết) và cụ Đỗ Văn T3 (đã chết) có xác nhận của Chủ tịch UBND xã thời điểm đó ký (ông Xuân K) xác nhận và đóng dấu ngày 02/4/1984. Thời điểm đó ông T đang đi lao động tại Bulgaria. Thời điểm chuyển nhượng, bố ông đã trả được 50% giá trị nhà đất, phần còn lại thì bố ông trả sau. Ông T có gửi tiền về để bố ông trả tiền thửa đất hay không thì ông bà không rõ. Bố mẹ ông sinh được 7 người con, thời điểm đó ông làm sỹ quan quân đội, ông T đi nước ngoài, ông ở nhà phụ giúp bố mẹ ông nuôi các em rất vất vả.
Năm 1990 ông lập gia đình, bố mẹ ông quyết định cho ông thửa đất này để vợ chồng ông sinh sống lập nghiệp. Khi cho đất, bố mẹ ông có giao cho ông giấy mua bán để làm căn cứ sau này. Sau khi được cho, ông và gia đình đã sinh sống ổn định trên thửa đất từ năm 1990 đến nay. Khi bố mẹ ông còn sống thì các bên anh em rất đoàn kết, yêu thương nhau, không ai có ý kiến gì đến khi bố mẹ ông chết, các bên mới phát sinh tranh chấp.
Việc bản đồ 299/TTg mang tên ông Đỗ Văn T do công tác quản lý đất đai lúc đó chưa chặt chẽ và không phù hợp với thực tế bởi diện tích đất đó là do bố đẻ ông mua của ông Trần Văn C. Ông T đi lao động tại Bulgaria từ năm 1981 đến cuối năm 1984 ông T có về quê một thời gian ngắn, sau đó tiếp tục đi lao động đến năm 1992 về nước không sống trên đất hiện ông bà đang ở mà lấy vợ và sinh sống tại thành phố T (cũ). Theo Quyết định 652 hạn mức đất ở tại xã M (cũ) là 360m² đúng quy định của Nhà nước đối với diện tích đất vượt quá 360m² xác định là đất LNK mà quy đổi theo Quyết định 652 và 948 cho hộ gia đình ông bà là đúng quy định do hộ gia đình ông bà sinh sống trên đất đó từ năm 1990. Khi nhà nước thực hiện việc đo đạc hiện trạng năm 2007, ông bà đang sinh sống trên đất nên người khai là chủ sử dụng đất.
Quan điểm của ông bà: Ông đề nghị tách ra 120m² đất ở trong phần diện tích đất tranh chấp để bán đi để các anh chị em trong gia đình có kinh phí xây dựng nơi thờ cúng chung cho gia đình, không đồng ý yêu cầu của ông T yêu cầu ông bà trả lại diện tích đất 850m².
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đỗ Đức D, chị Đỗ Thị Ánh H trình bày: Anh chị không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T, đối với phần diện tích vượt quá hạn mức đất ở 360m², quá trình thực hiện chính sách đất đai nhà nước đã quy đổi diện tích đất nông nghiệp vào phần diện tích đất vườn trong đó có phần diện tích đất nông nghiệp của anh chị nên anh chị đề nghị Tòa án giữ nguyên đất trồng cây lâu năm để anh chị sử dụng chung.
- Ông Đỗ Văn T5, ông Đỗ Văn T6, bà Đỗ Thị N, bà Đỗ Thị N1 trình bày: Quan điểm các ông bà xác định ông T khởi kiện yêu cầu ông T1 phải trả lại diện tích đất 850m² có địa chỉ thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã Đ, tỉnh Hưng Yên) theo bản đồ 299/TTg mang tên ông Đỗ Văn T là đúng, bởi toàn bộ tiền mua đất năm 1984 hoàn toàn của ông T mà bố các ông bà cụ Đỗ Văn T3 chỉ đứng ra mua giúp nên năm 1985 khi nhà nước thực hiện đo đạc bản đồ 299/TTg bố các ông bà đã khai chủ sử dụng là ông Đỗ Văn T, năm 1990 khi ông T1 xây dựng gia đình với bà Q bố ông đã cho ông T1, bà Q ra ở riêng trên đất của ông T. Quan điểm của các ông bà xác định diện tích đất tại thửa số 204, tờ bản đồ số 3 bản đồ 299/TTg diện tích 250m² hiện tại là thửa đất 274, tờ bản đồ số 12 tại thôn C, xã C, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã Đ, tỉnh Hưng Yên) là của ông Đỗ Văn T không phải của bố mẹ các ông bà nên các ông bà không xác định là di sản thừa kế và không có tranh chấp gì với ông T.
Tại bản án số 18/2025/DS-ST, ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Hưng Yên quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, các Điều 91, 147, 156, 157, 158, 163, 164, 165, 166, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 158, 160, 161, 166, 189, 212, 219, 220, 257, 260, 262, 264, 265, 266, 267, 272, 273 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 125, 126, 129, 143, 203 Luật Đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 26/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Xử:
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn T buộc ông Đỗ Đức T1 phải trả lại ông Đỗ Văn T quyền sử dụng diện tích 360m² đất ở và không chấp nhận yêu cầu của ông Đỗ Văn T yêu cầu ông Đỗ Đức T1 trả lại diện tích đất trồng cây lâu năm là 409,9m² tại thửa đất số 204 tờ bản đồ số 03 bản đồ 299/TTg có địa chỉ thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã Đ, tỉnh Hưng Yên), trong đó:
* Giao cho ông Đỗ Văn T được sở hữu quyền sử dụng diện tích 250m² đất ở tại thửa đất số 204 tờ bản đồ số 03 bản đồ 299/TTg có địa chỉ thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã Đ, tỉnh Hưng Yên), được xác định ranh giới, vị trí, tọa độ cụ thể như sau: Phía Đông Bắc được xác định từ điểm M1 đến điểm M2 dài 34,60m giáp diện tích đất giao cho ông T1; Phía Tây Nam được xác định từ điểm 4, 5, 6 đến điểm 7 dài 35,39m giáp thửa đất số 847, 848; Phía Đông Nam được xác định từ điểm 4 đến điểm M2 dài 7,16m giáp đường giao thông xã; Phía T được xác định từ điểm 7 đến điểm M1 dài 7,16m giáp thửa đất 835.
* Buộc ông Đỗ Đức T1 và bà Giang Thị Q phải thanh toán cho ông Đỗ Văn T số tiền giá trị 110m² đất ở (sau đối trừ công sức quản lý 34.000.000 đồng và giá trị phần tường bao 3.141.672 đồng) là 754.858.328 đồng.
* Giao cho ông Đỗ Đức T1 và bà Giang Thị Q được quyền sử dụng diện tích 110m² đất ở; Giao cho bà Giang Thị Q, anh Đỗ Đức D, chị Đỗ Thị Ánh H được quyền sử dụng diện tích 409,9m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 204 tờ bản đồ số 03 bản đồ 299/TTg có địa chỉ thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn C, xã Đ, tỉnh Hưng Yên). Diện tích 110m² đất ở và 409,9m² đất trồng cây lâu năm cùng nằm trên phần đất còn lại của thửa đất có tổng diện tích là 519,9m² được xác định ranh giới, vị trí, tọa độ cụ thể như sau: Phía Đông Bắc được xác định từ điểm 1, 2 đến điểm 3 dài 32,01m giáp đường giao thông thôn; Phía Tây Nam được xác định từ điểm M1 đến điểm M2 dài 34,60m giáp đất giao cho ông Đỗ Văn T; Phía Đông Nam được xác định từ điểm 3 đến điểm M2 dài 16,09m giáp đường giao thông xã; Phía T được xác định từ điểm 1, 8, 9 đến điểm M1 dài 14,88m giáp thửa đất 835.
(có sơ đồ vị trí, tạo độ, điểm phần diện tích đất kèm theo bản án)
1.2. Buộc ông Đỗ Đức T1 và bà Giang Thị Q phải di chuyển toàn bộ cây cối mà ông T1, bà Q đã trồng trên phần diện tích đất 250m² giao cho ông Đỗ Văn T được quyền sử dụng.
1.3. Chấp nhận việc ông T không yêu cầu ông T1, bà Q phải thanh toán giá trị của ngôi nhà cấp 4 và phần diện tích sân gạch.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/10/2025, ông Đỗ Đức T1 kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Đỗ Đức T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T1, xác định đất tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của ông T1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng. Đối với người tham gia tố tụng đã chấp hành quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông T1, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng tăng công sức trong việc trông nom quản lý tài sản cho ông ông T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Ông Đỗ Đức T1 kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật và có đơn xin miễn án nên vụ việc được Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên thụ lý, xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Đức T1 thì thấy:
[2.1]. Về nguồn gốc đất:
Cả nguyên đơn và bị đơn đều xác định thửa đất là do cụ T3 mua của cụ C. Việc này còn được thể hiện tại giấy chuyển nhượng nhà đất giữa cụ Đỗ Văn T3 và ông Trần Văn C ngày 30/3/1984 (căn nhà hiện vẫn còn) có xác nhận của Chủ tịch UBND xã ký, xác nhận và đóng dấu.
Ông T trình bày năm 1984 ông lao động tại Bulgaria và có nhờ bố ông là cụ Đỗ Văn T3 đứng tên mua nhà, đất của ông Trần Văn C đến cuối năm 1984 ông về phép và trả hết số tiền mua nhà đất cho ông C. Lời trình bày của ông T phù hợp với lời trình bày của anh em trong gia đình gồm ông T5, ông T6, bà N, bà N1 đều khẳng định toàn bộ tiền mua đất năm 1984 của ông T, cụ Đỗ Văn T3 chỉ đứng ra mua giúp. Thực tế, theo bản đồ đo đạc bản đồ 299/TTg cụ T3 đã khai chủ sử dụng đất là ông Đỗ Văn T. Như vậy, có căn cứ xác định thửa đất đã được cụ T3 mua của cụ C, năm 1985 bằng nguồn tiền của ông T và cụ T3 đã đi đăng ký kê khai biến động thửa đất mang tên ông T nên thuộc quyền sử dụng của ông T. Vì vậy, án sơ thẩm đã buộc ông T1, bà Q phải trả cho ông T một phần diện tích đất ở, phần đất ở còn lại ông T1 được sử dụng và phải thanh toán giá trị đất cho ông T như bản án sơ thẩm là phù hợp.
Ông T1 cho rằng do bố ông mua bằng nguồn tiền của bố mẹ ông, sau đó đến năm 1990 cụ T3 đã cho vợ chồng ông thửa đất nhưng ông không xuất trình được giấy tờ tặng cho, di chúc của cụ Đỗ Văn T3 để lại, hiện cụ T3 đã chết không có căn cứ chứng minh việc cụ T3 đã cho vợ chồng ông thửa đất. Hơn nữa nếu cụ T3 mua thửa đất trên thì tại sao khi kê khai chủ sử dụng thửa đất theo bản đồ 299 thì lại ghi tên chủ sử dụng lại là ông T? Từ những phân tích trên, không có căn cứ xác định thửa đất là của vợ chồng ông T1.
[2.2]. Về quá trình quản lý, sử dụng đất tranh chấp:
Các đương sự đều xác định năm 1990 gia đình ông T1 đã sinh sống ổn định trên thửa đất cho đến nay. Ông T1, bà Q đã xây dựng ngôi nhà 2 tầng, công trình phụ và một số công trình kiên cố phục vụ cho cuộc sống của gia đình ông T1, ông T biết không phản đối, quá trình sử dụng ông T1 là người nộp thuế đất. Như vậy về phía vợ chồng ông T1 có công sức trong việc quản lý tài sản được 35 năm, tuy nhiên án sơ thẩm trích công sức cho ông T1 34.000.000đ là không phù hợp với công sức gia đình ông T1 bỏ ra, về phần này cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho phù hợp. Trích công sức đóng góp của vợ chồng ông T1 là 392.858.328 đồng, buộc ông T phải thanh toán cho ông T1, bà Q.
Đối trừ số tiền ông T phải thanh toán cho bà Q, ông T1 {792.000.000 đồng - 392.858.328 đồng (công sức đóng góp) - 3.141.672 đồng (giá trị phần tường bao)} = 396.000.000 đồng. Buộc ông T1, bà Q phải thanh toán cho ông T số tiền là 396.000.000 đồng.
Từ những phân tích trên, quan điểm của Đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Đức T1, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DS-ST, ngày 23/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 7, tỉnh Hưng Yên theo hướng tăng công sức cho gia đình ông T1 là có cơ sở.
[3]. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận một phần nên ông Đỗ Đức T1 không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 148, Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng và quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Đức T1. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DS-ST, ngày 23/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 7, tỉnh Hưng Yên như sau.
Buộc ông Đỗ Đức T1 và bà Giang Thị Q phải thanh toán cho ông Đỗ Văn T số tiền giá trị 110m² đất ở (sau đối trừ công sức quản lý 392.858.328 đồng và giá trị phần tường bao 3.141.672 đồng) là 396.000.000 đồng.
Kể từ ngày ông T có đơn yêu cầu thi hành khoản, nếu vợ chồng ông Đỗ Đức T1 và bà Giang Thị Q không chịu thi hành khoản tiền trên phải trả lãi đối với số tiền và thời gian chậm trả theo lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Giữ nguyên các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DS-ST, ngày 23/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 7, tỉnh Hưng Yên.
- Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm đối với ông Đỗ Đức T1.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Chu Tuấn Vương | Hoàng Hữu Tăng |
| Nguyễn Thị Kim Hằng |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Hữu Tăng |
Bản án số 132/2025/DS-PT ngày 22/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 132/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
