|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – NGHỆ AN Bản án số: 130/2025/HS-ST Ngày: 29/12/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Hải Yến.
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Thúy Vinh – Bà Nguyễn Thị Thơ.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Thúy Lợi - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 – Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Nghệ An: Ông Hoàng Anh Dũng, kiểm sát viên.
Ngày 29/12/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 127/2025/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1994 tại tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: K, phường V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc L; Con bà: Lê Thị T1; Vợ con: Chưa có; Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 15/9/2022, tại Quyết định số 101/QĐ-XPHC bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng, chấp hành xong ngày 06/01/2024.
Nhân thân: Ngày 21/3/2016, tại Quyết định số 15/2016/QĐ-TA bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2025 đến nay; Có mặt tại phiên toà;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 9/2025, Nguyễn Ngọc T làm nhân viên cho quán K, số F, đường H, khối Y, phường V, tỉnh Nghệ An thì quen một nam thanh niên (không rõ lý lịch) là khách đến quán giới thiệu tên là H, qua nói chuyện được biết T và H đều là người nghiện ma túy đá. Khoảng 08 giờ ngày 18/9/2025, T đi bộ từ quán K ra đường Đ để đi ăn sáng thì gặp H trước Công ty cổ phần M3, số C, đường Đ, phường V, tỉnh Nghệ An. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T nói với H có biết chỗ nào bán ma túy đá không thì mua hộ. H nói biết và hỏi T tiền đâu. T đưa H 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền mặt, H nhận tiền rồi nói T chờ để H đi lấy ma tuý. Khoảng 20 phút sau H quay lại và đưa cho T 01 (một) túi ni lông màu trắng, bên trong chứa ma túy đá. T nói với H muốn sử dụng ma túy ngay mà lại không có dụng cụ thì H lấy bên trong chiếc túi màu đen đang đeo trên người ra 01 (một) bộ cóng thủy tinh và bật lửa đưa cho T. T nhận lấy và đi bộ vào khu vực bãi rác phía sau công ty cổ phần M3 rồi T cho toàn bộ số ma tuý đá trên vào cóng, đốt nóng và hút vào cơ thể. Sử dụng xong T đi ra và trả bộ cóng cùng bật lửa cho H, rồi quay lại quán K.
Thực hiện công tác quản lý người sau cai nghiện tại cộng đồng, vào 16 giờ 00 phút ngày 19/9/2025, Công an phường V mời và tiến hành kiểm tra chất ma tuy trong cơ thể đối với T, kết quả dương tính với chất ma tuý.
Quá trình điều tra xác định, ngày 01/10/2024, Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An (nay là phường V, tỉnh Nghệ An) ra Quyết định Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 12/QĐ-UBND đối với Nguyễn Ngọc T thời hạn từ 01/10/2024 đến ngày 01/10/2026.
Tại bản kết luận giám định độc chất số 763/1073/25/KLGĐĐC-PYQG ngày 25/9/2025 của V kết luận: “Mẫu nước tiểu:
- Có tìm thấy A và M
- Không tìm thấy các chất ma túy khác nêu trên.”
Vật chứng đồ vật thu giữ và xử lý: Không.
Cáo trạng số 77/CT-VKS-TPV ngày 04/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Nghệ An đã truy tố Nguyễn Ngọc T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên toà hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Nghệ An giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với nội dung bản Cáo trạng, luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Nghệ An và không tranh luận gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy, có cơ sở để kết luận:
Nguyễn Ngọc T là người bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú và có Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú từ ngày 01/10/2024 đến ngày 01/10/2026. Vào hồi 08 giờ 30 phút, ngày 18 tháng 9 năm 2025, tại khu vực phía sau công ty cổ phần M3 và Công trình đô thị N, đường Đ, phường V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Ngọc T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 25/9/2025, Công an phường V, tỉnh Nghệ An đã phối hợp với Trạm y tế Q tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Ngọc T và có kết quả dương tính với ma túy Methamphetmine và MDMA. Tại Bản Kết luận giám định độc chất số 780/1094/25/KLGĐĐC – PYQG ngày 30/9/2025 của V kết luận như sau: “Có tìm thấy A và M1; Không tìm thấy các chất ma tuý khác”.
Quá trình phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được A và M2 là chất ma túy Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép nhưng vẫn cố tình thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2]. Xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước. Mặc dù bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, phá hủy hệ thần kinh, khiến người sử dụng lệ thuộc vào chất ma túy, hủy hoại sức khỏe của những người sử dụng khiến họ không còn có cuộc sống bình thường. Quá trình sử dụng ma túy gây ra ảo giác, ngáo đá gây ảnh hưởng đến chính bản thân bị cáo và những người xung quanh. Nhưng bị cáo bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật vẫn sử dụng trái phép chất ma túy nên cần xử phạt nghiêm, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa để trở thành người có ích cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[2.3]. Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính là phạt tù còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[2.4]. Đối với người đàn ông tên H là người mua ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ, lý lịch cụ thể nên không có căn cứ xử lý; khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
[2.5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý".
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/10/2025.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
- Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An./
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Phạm Thị Hải Yến |
Bản án số 130/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – NGHỆ AN về sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 130/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Th phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy
