|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2026/HS-PT Ngày: 16 - 01 - 2026 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Giàu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Huy
Bà Lê Thị Hồng Tâm
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Mơ – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Võ Mỹ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 297/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Đặng Thị Ngọc Yến và đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2025/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Tháp.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Đặng Thị Ngọc Y, sinh năm 1987 tại tỉnh Đồng Tháp; Thẻ CCCD: 082187001306. Nơi cư trú: Khu phố P H, phường N Q, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Minh G và bà Nguyễn Thị L; Bị cáo có chồng Nguyễn Văn S và có 02 người con; Tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/02/2021, bị Công an xã Phú Quý, thị xã Cai Lậy xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong ngày 19/5/2021.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/02/2024 chuyển tạm giam ngày 23/02/2024, đến ngày 05/3/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Thái Thị Hồng T (Tên gọi khác: L), sinh năm 1980 tại tỉnh Đồng Tháp; Thẻ CCCD: 08280008681. Nơi cư trú: Khu phố P M, phường N Q, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thái Văn C và bà Võ Thị B; Bị cáo có chồng Lê Nguyên L và có 01 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/02/2024 đến ngày 23/02/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
2
3. Dương Phát D, sinh năm 1987 tại tỉnh Đồng Tháp; Thẻ CCCD: 080087016441. Nơi cư trú: Khu phố P H, phường N Q, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Phát D (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hồng C; Bị cáo có vợ Nguyễn Thị Kim C và có 01 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
4. Đặng Minh K, sinh năm 1992 tại tỉnh Đồng Tháp; Thẻ CCCD: 082092002386. Nơi cư trú: Khu phố P H, phường N Q, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Minh G và bà Nguyễn Thị L; Bị cáo có vợ Phạm Thị Cẩm T và có 02 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Các bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa)
Ngoài ra, bản án còn có 08 bị cáo khác, 2 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Đặng Thị Ngọc Y, Thái Thị Hồng T, Dương Phát D, Nguyễn Minh P, Đặng Minh T, Ngô Quốc P, Đặng Minh K, Lưu Phước V, Ngô Quốc K, Phan Thanh T, Đặng Minh G và Nguyễn Quốc T bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp) truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào lúc 12 giờ 45 phút ngày 18/02/2024, lực lượng Cảnh sát hình sự Công an thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang phối hợp cùng Công an xã Phú Quý, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang kiểm tra bắt quả tang tụ điểm “Đánh bạc” bằng hình thức đánh bài Tây loại 52 lá, binh xập xám (13 lá) được thắng thua bằng tiền tại nhà của Đặng Thị Ngọc Y thuộc ấp P H, xã P Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Tiến hành bắt giữ hình sự đối với Đặng Thị Ngọc Y, Ngô Quốc P, Nguyễn Minh P, Thái Thị Hồng T và Đặng Minh T.
Tang vật thu giữ:
- Tiền Việt Nam đồng 5.710.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO, thu giữ của Thái Thị Hồng T.
- Tiền Việt Nam đồng 3.960.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, thu giữ của Đặng Minh T.
- Tiền Việt Nam đồng 3.750.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A202, thu giữ của Nguyễn Minh P.
- 01 cái mền (chăn) bằng vải, màu trắng - xanh.
3
- 01 bộ bài Tây loại 52 lá đã qua sử dụng.
- 01 cái bàn bằng gỗ.
- 398 phỉnh bằng nhựa để trên bàn.
- 01 phỉnh để trong hộp nhựa (phỉnh xâu) để trên nền gạch trong phòng.
- 01 điện thoại đi động hiệu Samsung và 01 xe môtô biển kiểm soát 63B2 - 572.72, thu giữ của Ngô Quốc P.
Tại vị trí trên bàn nhà bếp trong nhà của Y phát hiện có 02 quyển tập:
- 01 quyển tập ngoài bìa có ghi chữ CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT - THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ ĐẠI TÍN BẠC LIÊU (có chữ ký của Đặng Thị Ngọc Y).
- 01 quyển tập ngoài bìa có ghi chữ “Bảo hành 1 đổi 1 với sản phẩm lem” (có chữ ký của Đặng Thị Ngọc Y).
Tại Bản kết luận giám định số 1116/KL-KTHS(Đ2) ngày 26/9/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Chữ viết tại các trang giấy được đánh số thứ tự từ 1 đến 7 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 và tại trang giấy được đánh số 1, 2 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ viết mang tên Đặng Thị Ngọc Y trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 là do cùng một người viết ra.
Đặng Thị Ngọc Y thực hiện hành vi “Tổ chức đánh bạc” như sau:
Vào khoảng tháng 01/2024 cho đến ngày 18/02/2024 (thời điểm Tết Nguyên đán năm 2024), Đặng Thị Ngọc Y có tổ chức đánh bạc dưới hình thức đánh bài binh xập xám 13 lá được thua bằng tiền tại khu vực nhà bếp và phòng ngủ thứ hai tại nhà của Yến tại ấp P H, xã P Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang để thu “tiền xâu”. Y quy định cách thức chơi đánh bạc như sau: Khi chơi sẽ có một người đứng ra chia bài, mỗi người sẽ được chia 13 lá bài Tây. Từ 13 lá bài Tây này mỗi người chơi sẽ sắp xếp thành 03 chi khác nhau (chi thứ nhất có 03 lá bài, chi thứ hai 5 lá bài và chi thứ ba 5 lá bài), người chơi sắp xếp các chi bài làm sao cho các chi phải là lớn nhất có thể (theo nguyên tắc: mậu binh ăn hết, cù lủ ăn thùng, thùng ăn sảnh; sảnh ăn sám chi (03 lá giống nhau), sám chỉ ăn 02 đôi, 02 đôi ăn 01 đôi, quân cơ lớn hơn quân rô, quân chuồn và quân bích) để so với các chi bài của những người chơi đánh bạc còn lại. Sau khi sắp xếp xong các chi bài sẽ so sánh với nhau để xem bài của ai sẽ lớn hơn để tính thắng thua và quy định mỗi chi thua thì người thua phải chung cho người thắng 01 phỉnh tương đương số tiền quy định, người thua cả ba chi thì chung gấp đôi tương đương 06 phỉnh.
Hàng ngày, Y là người trực tiếp sử dụng số thuê bao di động 0338.546.720 điện thoại liên hệ rủ những người tham gia đánh bạc đến nhà của Y để tham gia đánh bạc. Khi hẹn đủ 04 người, Y chuẩn bị sẵn 01 cái bàn bằng gỗ, 01 cái (chăn) mền dùng để trên cái bàn gỗ; 04 cái rổ bằng nhựa mỗi rổ có 100 phỉnh bằng nhựa nhiều màu sắc và một bộ bài Tây loại 52 lá sẵn ở trong phòng ngủ hoặc khu vực nhà bếp. Những người tham gia đánh bạc sẽ không trực tiếp chung chi thắng thua
4
bằng tiền mặt mà trả bằng phỉnh (khi 04 người tham gia đánh bạc sẽ tự thỏa thuận mỗi phỉnh có giá trị tương đương 20.000 đồng, 30.000 đồng và 50.000 đồng); trước khi tham gia đánh bạc mỗi người tham gia đánh bạc sẽ được phát 100 phỉnh tương đương số tiền là 2.000.000 đồng; 3.000.000 đồng và 5.000.000 đồng để chung chi thắng thua. Nếu người tham gia đánh bạc được “mậu binh” thì Y sẽ lấy tiền xâu là 01 phỉnh tương đương giá trị số tiền mà 04 người tham gia đánh bạc thỏa thuận ban đầu, số phỉnh này sẽ được để trong 01 cái hộp bằng nhựa do Y chuẩn bị trước đó. Trước khi tham gia đánh bạc thì mỗi người được Y phát cho 100 phỉnh, 04 người tham gia đánh bạc trong đó có 01 người thua hết 100 phỉnh thì gọi là kết thúc 01 chếnh bạc, bốn người tham gia đánh bạc tự đếm số phỉnh của mình thắng - thua, Y sẽ ghi vào một quyển tập và kiểm tra số phỉnh mà Y thu được (tiền xâu). Sau đó, 400 phỉnh được tiếp tục chia đều cho 04 người tham gia đánh bạc tiếp tục chơi chếnh mới. Đến cuối ngày, khi 04 người chơi nghỉ thì Y là người cộng sổ để tính toán số phỉnh thắng - thua của từng người. Y nhận tiền của người thua chung cho người thắng và lấy tiền xâu.
Vào khoảng 11 giờ ngày 18/02/2024, Y điện thoại rủ Ngô Quốc P, Nguyễn Minh P, Thái Thị Hồng T và Đặng Minh T (em ruột của Y) đến nhà của Y tại ấp P H, xã P Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia đánh bạc hình thức bài binh xập xám (13 lá) được thắng thua bằng tiền. Khi Minh P, Quốc P, T và T đến nhà Y thì cả 04 thống nhất chơi mỗi phỉnh là 30.000 đồng. Y đã chuẩn bị sẵn một cái bàn, trên bàn có trải sẵn một cái mền bằng vải màu trắng - xanh, 01 bộ bài Tây 52 lá và 04 cái rổ nhựa bên trong chứa các phỉnh để chung chi thắng thua khi đánh bạc (mỗi rổ chứa 100 phỉnh) tại căn phòng ngủ số 2 của nhà mình. Tại chếnh bạc đầu tiên, Minh P thua hết 100 phỉnh tương đương 3.000.000 đồng, T thắng 34 phỉnh tương đương 720.000 đồng, T thắng 79 phỉnh tương đương 2.370.000 đồng; Quốc P thua 19 phỉnh tương đương 570.000 đồng. Y thu được tiền xâu là 06 phỉnh tương đương 180.000 đồng và ghi vào một quyển tập. Sau đó, cả 04 người tiếp tục tham gia chếnh bạc thứ hai thì bị lực lượng Công an vào bắt quả tang. Tại thời điểm bắt quả tang, tại vị trí của T là 96 phỉnh (Y đưa 99 phỉnh nhưng vẫn tính 100 phỉnh), T thua 04 phỉnh tương đương số tiền 120.000 đồng; vị trí của T là 104 phỉnh, thắng 04 phỉnh, tương đương số tiền 120.000 đồng; vị trí của Minh P là 125 phỉnh, thắng 25 phỉnh, tương đương số tiền 750.000 đồng và vị trí của Quốc P là 74 phỉnh, thua 26 phỉnh, tương đương số tiền 780.000 đồng. Y thu xâu 01 phỉnh, tương đương số tiền 30.000 đồng.
Qua kiểm tra vật chứng thu giữ là 02 quyển tập tại vị trí trên bàn nhà bếp trong nhà của Y, căn cứ vào lời khai của Đặng Thị Ngọc Y, những người tham gia chơi đánh bạc xác định ngoài lần tổ chức đánh bạc vào ngày 18/02/2024 thì Y còn 07 lần khác tổ chức đánh bạc bằng hình thức đánh bài binh xập xám được thắng thua bằng tiền tại nhà của Y và được ghi vào 02 quyển tập để tính tiền thắng thua, chung chi. Cụ thể như sau:
* Tại Quyển tập ngoài bìa có ghi chữ “CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT - THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ ĐẠI TÍN BẠC LIÊU”:
- Lần thứ nhất: Tại trang được đánh số thứ tự 01 (không xác định ngày,
5
tháng cụ thể) Y tổ chức 04 chếnh bạc với tổng số tiền 80.000.000 đồng (quy định 50.000 đồng/phỉnh). Những người tham gia đánh bạc được ghi trong quyển sổ gồm: Thái Thị Hồng T, Đặng Minh K, Ngô Quốc K, Dương Phát D, ngoài ra còn có Ngô Quốc P tham gia đánh bạc, cụ thể như sau: Y là người điện thoại rủ Đặng Minh K, Thái Thị Hồng T, Dương Phát D và Ngô Quốc P đến nhà Y để chơi đánh bạc. Do Quốc P bận công việc nên không tham gia, nhưng do không đủ người chơi nên Y tiếp tục gọi cho Quốc P thì P gọi điện thoại cho Ngô Quốc K (là em ruột P) hỏi có chơi đánh bạc không thì K đồng ý và đi đến nhà của Y tham gia chơi đánh bạc. Khi K đến nhà Y thì T, K, K và D được Y cung cấp cho mỗi người 100 phỉnh (có giá trị là 50.000 đồng/phỉnh). Quốc K tham gia được 02 chếnh bạc (tương đương với tổng số tiền 40.000.000 đồng) thì Quốc P đến nên Quốc K nghỉ đi về. Quốc P ngồi vào tụ của Quốc K chơi tiếp tục 02 chếnh (tương đương với tổng số tiền 40.000.000 đồng). Kết quả trong ngày này, T thua 227 phỉnh tương đương số tiền 11.350.000 đồng. D thắng 172 phỉnh tương đương số tiền là 8.600.000 đồng. K không thắng, không thua. Quốc K tham gia chơi 02 chếnh đầu thua 166 phỉnh tương đương với số tiền 8.300.000 đồng và Quốc P tham gia 02 chếnh bạc cuối thắng được 180 phỉnh tương đương với số tiền 9.000.000 đồng. Y thu tiền do tổ chức đánh bạc (tiền xâu) được 41 phỉnh tương đương số tiền 2.050.000 đồng.
- Lần thứ hai: Tại trang được đánh số thứ tự 03. Ngày 12/02/2024 (Mùng 3 Tết), Y tổ chức được 02 chếnh bạc với tổng số tiền 40.000.000 đồng (quy định 50.000 đồng/phỉnh). Những người tham gia được ghi trong sổ gồm: Thái Thị Hồng T, Dương Phát D, Nguyễn Minh P và Lưu Phước V. Hình thức tham gia chơi đánh bạc như lân trên. Kết quả trong ngày này, T thắng 192 phỉnh tương đương số tiền 9.600.000 đồng. D thua 177 phỉnh tương đương số tiền 8.850.000 đồng. Minh P thắng 10 phỉnh tương đương số tiền 500.000 đồng, V thua 53 phỉnh tương đương số tiền 2.650.000 đồng. Y thu tiền do tổ chức đánh bạc (tiền xâu) được 28 phỉnh tương đương số tiền 1.400.000 đồng.
- Lần thứ ba: Tại trang được đánh số thứ tự 04. Ngày 13/02/2024 (Mùng 4 Tết), Y tổ chức được 02 chếnh đánh bạc với tổng số tiền 40.000.000 đồng (quy định 50.000 đồng/phỉnh). Những người tham gia chơi đánh bạc được ghi trong sổ gồm: Nguyễn Minh P, Đặng Minh K, Lưu Phước V và Dương Phát D. Cụ thể như sau: Y là người điện thoại rủ Nguyễn Minh P, Thái Thị Hồng T, Lưu Phước V và Dương Phát D đến nhà Y tham gia đánh bạc nhưng Tuyết bận không đến nên T nhờ Đặng Minh K chơi đánh bạc dùm thì K đồng ý. K chơi thay cho T thì thua 100 phỉnh nên Y nhắn tin cho T báo kết quả và hỏi T có tiếp tục chơi không thì T trả lời không chơi tiếp. Tuy nhiên, K tiếp tục chơi thêm 01 chếnh thì nghỉ. Kết quả trong ngày, Minh P thua 32 phỉnh tương đương số tiền 1.600.000 đồng. D thắng 80 phỉnh tương đương số tiền 4.000.000 đồng. V thắng 139 phỉnh tương đương số tiền 6.950.000 đồng. K thua 200 phỉnh tương đương số tiền 10.000.000 đồng. Y thu tiền do tổ chức đánh bạc (tiền xâu) được 13 phỉnh tương đương số tiền 650.000 đồng.
- Lần thứ tư: Tại trang được đánh số thứ tự 05. (không xác định ngày tháng
6
cụ thể) Y tổ chức 04 chếnh bạc (quy định 50.000 đồng/phỉnh) với tổng số tiền 80.000.000 đồng, những người tham gia chơi đánh bạc gồm: Thái Thị Hồng T, Phan Thanh T, Đặng Minh K và Dương Phát D. Ngoài ra, còn có Nguyễn Minh P tham gia đánh bạc cụ thể như sau: T tham gia được 02 chếnh bạc (tương đương với số tiền 40.000.000 đồng) thì Minh P đến nên T nghỉ đi về. Minh P đến ngồi vào tụ của T chơi tiếp tục 02 chếnh bạc (tương đương với số tiền 40.000.000 đồng). Kết quả trong ngày, T thua 105 phỉnh tương đương số tiền là 5.250.000 đồng. D thắng 224 phỉnh tương đương số tiền 11.200.000 đồng. T thua 131 phỉnh tương đương số tiền là 6.650.000 đồng. K thua 142 phỉnh tương đương số tiền 7.100.000 đồng. Minh P thắng 111 phỉnh tương đương số tiền 5.550.000 đồng. Y thu tiền do tổ chức đánh bạc (tiền xâu) được 43 phỉnh tương đương số tiền 2.150.000 đồng.
- Lần thứ năm: Tại trang được đánh số thứ tự 06. (không xác định ngày, tháng cụ thể) Y tổ chức 02 chếnh bạc (quy định 50.000 đồng/phỉnh) với tổng số tiền 40.000.000 đồng, những người tham gia chơi đánh bạc gồm: Thái Thị Hồng T, Dương Phát D, Đặng Minh T và Nguyễn Minh P. Kết quả trong ngày, T thắng 143 phỉnh tương đương số tiền 7.150.000 đồng. D thua 200 phỉnh tương đương số tiền 10.000.000 đồng. T thắng 56 phỉnh tương đương số tiền 2.800.000 đồng. Minh P thua 22 phỉnh tương đương số tiền 1.100.000 đồng. Y thu tiền do tổ chức đánh bạc (tiền xâu) được 23 phỉnh tương đương số tiền 1.150.000 đồng.
* Tại Quyển tập ngoài bìa có ghi chữ “Bảo hành 1 đổi 1 với sản phẩm lem":
- Lần thứ sáu: Ngày 16/02/2024 (Mùng 7 Tết), Y tổ chức được 02 chếnh bạc với tổng số tiền 40.000.000 đồng (quy định 50.000 đồng/phỉnh), những người tham gia chơi đánh bạc gồm: Dương Phát D, Thái Thị Hồng T, Nguyễn Minh P và Đặng Minh G (cha ruột của Y). Kết quả trong ngày, D thắng 242 phỉnh tương đương số tiền 12.100.000 đồng. T thua 23 phỉnh tương đương số tiền 1.150.000 đồng. Minh P thua 195 phỉnh tương đương số tiền 9.750.000 đồng. G thua 52 phỉnh tương đương số tiền 2.600.000 đồng. Y thu tiền do tổ chức đánh bạc (tiền xâu) được 28 phỉnh tương đương số tiền 1.400.000 đồng.
- Lần thứ bảy: Ngày 17/02/2024 (Mùng 8 Tết), Y tổ chức được 01 chếnh bạc với tổng số tiền 20.000.000 đồng (quy định 50.000 đồng/phỉnh), những người tham gia chơi đánh bạc gồm: Dương Phát D, Nguyễn Quốc T, Đặng Minh T và Thái Thị Hồng T. Kết quả trong ngày, D thua 66 phỉnh tương đương số tiền 3.300.000 đồng. T thắng 90 phỉnh tương đương số tiền 4.500.000 đồng. T thắng 72 phỉnh tương đương số tiền 3.600.000 đồng. T thua 100 phỉnh tương đương số tiền 5.000.000 đồng. Y thu tiền do tổ chức đánh bạc (tiền xâu) được 06 phỉnh tương đương số tiền 300.000 đồng.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2025/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Tháp đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Ngọc Y phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Tuyên bố các bị cáo Thái Thị Hồng T, Dương Phát D, Đặng Minh K, phạm tội “Đánh bạc“
7
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Thị Ngọc Y 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2024 đến ngày 05/3/2024.
2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Thái Thị Hồng T 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2024 đến ngày 23/02/2024.
Xử phạt bị cáo Đặng Minh K 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Dương Phát D 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vào các ngày 15 và 17/9/2025, các bị cáo Thái Thị Hồng T, Đặng Thị Ngọc Y, Đặng Minh K, Dương Phát D kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo Thái Thị Hồng T, Đặng Thị Ngọc Y, Đặng Minh K, Dương Phát D thừa nhận hành vi phạm tội, các bị cáo giữ yêu cầu kháng cáo, xin xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo, giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo là phù hợp, các bị cáo không đảm bảo điều kiện để được hưởng án treo; trong giai đoạn phúc thẩm các bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới để xem xét. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]- Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã xét xử, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện:
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo Y tổ chức đánh bạc trong cùng một lần số tiền trên 20.000.000 đồng nhầm thu lợi bất chính, truy tố và xét xử sơ thẩm theo điểm c khoản 1 Điều 322; các bị cáo T, D, K là người trực tiếp
8
đánh bạc nhiều lần với các bị cáo khác với số tiền mỗi lần đánh bạc trên 50.000.000 đồng, truy tố và xét xử sơ thẩm theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[2]- Qua xem xét tính chất hành vi phạm tội của mỗi bị cáo cho thấy bị cáo Yến là người tổ chức cho các bị cáo khác đánh bạc, thu lợi bất chính số tiền 9.310.000 đồng. Bị cáo T trực tiếp tham gia đánh bạc 07 lần với số tiền 324.000.000 đồng và 01 lần tham gia cùng bị cáo khác trong vụ án, bị cáo D tham gia đánh bạc 07 lần với số tiền 340.000.000 đồng, bị cáo K tham gia đánh bạc 04 lần với số tiền 220.000.000 đồng. Các bị cáo thực hiện hành vi nhiều lần không đảm bảo điều kiện hưởng án treo, áp dụng hình phạt bị cáo T, D, K tại mức khởi điểm của khung hình phạt là không nặng, các bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, 01 tình tiết tăng nặng, không đảm bảo điều kiện để được áp dụng hình hình phạt dưới mức khởi điểm của khung hình phạt; bị cáo Y trong giai đoạn phúc thẩm có cung cấp thêm hồ sơ mới sinh con nhỏ 01 tháng tuổi, nên được xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo bị truy tố tại khoản 1 Điều 322, xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo tương xứng, phù hợp. Bị cáo T tại phiên tòa có cung cấp tài liệu thể hiện gia đình có công với cách mạng, nhưng đã được cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không được xem là tình tiết giảm nhẹ mới.
[3]- Ý kiến và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp nhận định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, nhưng cần xem xét giảm một phần hình phạt đối với bị cáo Yến.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định. Bị cáo Y không phải chịu án phí phúc thẩm.
[4]- Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Thái Thị Hồng T, Đặng Minh K, Dương Phát D. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đặng Thị Ngọc Y.
Sữa một phần quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2025/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Đặng Thị Ngọc Y.
2. Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Ngọc Y phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Tuyên bố các bị cáo Thái Thị Hồng T, Dương Phát D, Đặng Minh K, phạm tội “Đánh bạc“
2.1- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 38; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
9
Xử phạt bị cáo Đặng Thị Ngọc Y 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2024 đến ngày 05/3/2024.
2.2- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Thái Thị Hồng T 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2024 đến ngày 23/02/2024.
Xử phạt bị cáo Đặng Minh K 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2.3- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Dương Phát D 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Mỗi bị cáo Thái Thị Hồng T, Đặng Minh K, Dương Phát D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Đặng Thị Ngọc Y không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Ngọc Giàu |
Bản án số 13/2026/HS-PT ngày 16/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)
- Số bản án: 13/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bi cao Y va dong pham co hanh vi danh bac
