Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - NINH BÌNH


Bản án số: 13/2026/HNGĐ - ST
Ngày: 10 - 01 - 2026
V/v: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hóa;

Ông Lưu Văn Mạnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Tuấn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình.

Ngày 10 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 277/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132a/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2025/QĐST – HNGĐ, ngày 30 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 2004; địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Ninh Bình.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa: Chị T, anh H, bà H1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 11 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Đỗ Văn H có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình) ngày 18/10/2022 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 4 năm 2024 thì không còn hạnh phúc. Nguyên nhân là do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng ý kiến, vợ chồng đều đã cố gắng để chung sống hòa thuận nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 02 năm 2025 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay chị T nhận thấy không còn tình cảm với anh H, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc, nên xin được ly hôn anh Đỗ Văn H.

Về việc nuôi con chung: Chị T và anh H có 02 con chung là Đỗ Anh T1, sinh ngày 04/02/2022 và Đỗ Đăng K, sinh ngày 26/11/2023 hiện đang ở cùng anh H. Khi làm đơn ly hôn, chị T thường xuyên trực tiếp nuôi hai con cho anh H, chị nhận cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 2.000.000 đồng/tháng (một triệu đồng cho mỗi con một tháng). Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, anh H không có ý kiến về việc nuôi con, lại thường xuyên đi làm xa, để hai con ở nhà cho mẹ đẻ anh H là bà Nguyễn Thị H1 chăm sóc. Nay chị T nhận thấy các con chung còn nhỏ, chị không yên tâm khi các con chung ở cùng bà H1 mà không có sự chăm sóc của anh H. Nay ly hôn, chị T xin được trực tiếp nuôi hai con chung đến tuổi thành niên, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình đã tống đạt hợp lệ: Thông báo về việc thụ lý vụ án số 277/2025/TLST – HNGĐ, ngày 28/11/2025, Giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác cho bị đơn là anh Đỗ Văn H để anh H biết và có ý kiến bằng văn bản về yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của chị T gửi Tòa án và đến Tòa án làm việc. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, anh H không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị T gửi Tòa án và cũng không đến Tòa làm việc mà không có lý do.

Tại bản tự khai ngày 10/12/2025, người làm chứng - bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Đỗ Văn H. Anh H và chị T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn như chị T trình bày là đúng, sau khi cưới chị T, anh H chung sống cùng với gia đình bà. Tháng 7 năm 2025 chị T bỏ nhà đi, anh H vẫn ở cùng bà, nguyên nhân vì sao thì bà H1 không biết. Anh H và chị T có 02 con chung như chị T trình bày là đúng, hiện nay cháu T1 và cháu K đang ở cùng bà và anh H. Sau khi nhận thông báo thụ lý vụ án và các văn bản của Tòa án gửi cho anh H, bà H1 đều đã thông báo và giao ngay lại văn bản cho anh H biết nhưng anh H bận công việc nên không thể đến Tòa án làm việc được, anh H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng T vắng mặt nhưng đã có đơn xin vắng mặt; bị đơn anh Đỗ Văn H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, người làm chứng bà Nguyễn Thị H1 có ý kiến xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Đỗ Văn H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định cũ (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình) ngày 18/10/2022 trên cơ sở tự nguyện nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H là hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc từ tháng 4 năm 2024. Nguyên nhân theo chị T trình bày là do tính tình không hợp, bất đồng ý kiến, vợ chồng sống ly thân từ tháng 02 năm 2025 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay chị T xin ly hôn, anh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng và biết việc chị T xin ly hôn nhưng không có ý kiến gửi Tòa án.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng T, thấy: thực tế cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh H không hạnh phúc; khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra, hai người không có biện pháp, hành động để hàn gắn tình cảm; mặt khác anh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết việc chị T xin ly hôn nhưng đến nay không có văn bản ghi ý kiến gửi Tòa án và cũng không có mặt tại các buổi làm việc của Tòa án đã chứng minh anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn anh Đỗ Văn H là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Đỗ Văn H có 02 con chung là Đỗ Anh T1, sinh ngày 04/02/2022 và Đỗ Đăng K, sinh ngày 26/11/2023 hiện đang ở cùng anh H. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H không có ý kiến về việc nuôi con chung sau khi ly hôn. Xét thấy cả hai con chung còn nhỏ, cần có sự chăm sóc của mẹ và để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các con chung phát triển, căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân gia đình, cần giao cháu T1 và cháu K cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn nên anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung, hai bên có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng T phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Đỗ Văn H.
  2. Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Giao con chung là cháu Đỗ Anh T1, sinh ngày 04/02/2022 và Đỗ Đăng K, sinh ngày 26/11/2023 cho chị Nguyễn Thị Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Anh Đỗ Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có mọi quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Hiện cháu T1 và cháu K đang ở cùng anh H nên anh H có nghĩa vụ giao hai con cho chị T nuôi dưỡng khi chị T yêu cầu.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hồng T phải nộp án phí ly hôn 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0003221 ngày 28/11/2025 của Chi thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Chị T đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng T và bị đơn anh Đỗ Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- TAND + VKSND tỉnh Ninh Bình;
- VKSND khu vực 11;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- UBND xã Hải Tiến;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu văn phòng.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Thị Thanh Xuân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2026/HNGĐ - ST ngày 10/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH về ly hôn, nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 13/2026/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Ly hôn nuôi con khi ly hôn giữa chị H và anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger