TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU
VỰC 5 – THANH HÓA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 13/2026/HN&GD-ST
Ngày 05/01/2026.
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lường Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Đình Quế
Ông Vũ Văn Doãn
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chuyên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 225/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 04/12/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2025/QDST – HNGĐ ngày 18/12/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 2002. Có đơn xin xét xử vắng mặt
CCCD số: [...]xxx
Địa chỉ: Thôn P, xã H, tỉnh Thanh Hóa
Bị đơn: Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1994. Vắng mặt
CCCD số: [...]xxx
Địa chỉ: Thôn P, xã H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Nhật Bản
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/11/2025, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày như sau:
Về hôn nhân: Chị và anh Đỗ Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện H (nay là xã H), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 24/9/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được hơn hai năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng thay đổi, bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế nên thường xuyên sảy ra cãi vã. Đến năm 2023 thì anh H đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản, thời gian đầu vợ chồng còn liên lạc sau đó tình cảm vợ chồng lạnh nhạt dần không liên lạc và cũng không quan tâm gì đến nhau từ cuối năm 2024 đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm không còn, giữa chị và anh H không còn quan tâm hay trách nhiệm gì với nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về con: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đỗ Ngọc M1, sinh ngày 05/6/2020. Hiện tại cháu đang ở với chị, ly hôn nguyện vọng của chị được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng.
Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Trần Thị M khai hiện tại anh H đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, hiện tại anh H đã thay đổi nơi làm việc nên chị không biết địa chỉ cụ thể của anh H nên không cung cấp được cho Tòa án. Anh H vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình, mẹ đẻ anh H là bà Trần Thị N, sinh năm 1972. Trú tại thôn P, xã H, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thông tin từ gia đình anh H.
*Tại các buổi xác minh tại gia đình anh Đỗ Văn H, Tòa án tiến hành lấy lời khai của bà Trần Thị N.
*Tại các biên bản ghi lời khai, bà Trần Thị N trình bày:
Bà là mẹ đẻ của anh Đỗ Văn H và là mẹ chồng của chị Trần Thị M, anh H và chị M tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào năm 2020. Sau khi kết hôn anh H và chị M sinh sống cùng gia đình ông bà, thời gian đầu anh chị sống hòa thuận đến năm 2023 thì có biểu hiện rạn nứt, cụ thể lý do như thế nào thì bà không biết. Năm 2023 anh H đi xuất khẩu lao động và vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình, thời gian gần đây bà có nghe chị M nói chuyện với anh H về việc ly hôn, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật bà không có ý kiến gì. Về con chung: Vợ chồng anh H chị M có 01 con chung là cháu Đỗ Ngọc M1, sinh ngày 05/6/2020. Hiện nay cháu đang ở với chị M. Về việc nuôi con bà không có ý kiến gì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Về tài sản và nợ chung: chị M không yêu cầu giải quyết nên bà không có yêu cầu gì.
Gia đình bà vẫn thường xuyên liên lạc với anh H qua điện thoại nhưng địa chỉ cụ thể nơi sinh sống và làm việc của anh H thì bà không biết nên không cung cấp được cho Tòa án. Bà đồng ý nhận thay anh H các văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết thông báo lại nội dung văn bản cho anh H biết.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ, đảm bảo đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35 (được sửa đổi bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội, sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng Dân sự); điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về hôn nhân: Đề nghị HĐXX chấp nhận cho chị Trần Thị M được ly hôn anh Đỗ Văn H.
Về con chung: Giao cháu Đỗ Ngọc M1 cho chị Trần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ: Chị Trần Thị M không yêu cầu giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa có đủ cơ sở nhận định.
- Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại thôn P, xã H, tỉnh Thanh Hóa. Nơ cư trú hiện nay: Nhật Bản nhưng không xác định được địa chỉ cụ thể. Căn cứ Điều 35 (được sửa đổi bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội, sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng Dân sự); điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa.
- Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đỗ Văn H vắng mặt. Tại Công văn số 3051/XNC – Đ1 ngày 08/11/2025 của phòng Quản lý XNC Công an tỉnh T thì lần xuất cảnh gần nhất của anh H là ngày 21/5/2023 đến nay chưa có thông tin nhập cảnh trở lại. Tại biên bản ghi lời khai của bà Trần Thị N (mẹ đẻ anh H) xác nhận bà vẫn thường xuyên liên lạc với anh H qua điện thoại và đã thông báo cho anh H biết việc chị M làm đơn ly hôn anh, tuy nhiên anh H không cung cấp địa chỉ cụ thể và từ chối khai báo. Như vậy anh H cố tình giấu địa chỉ, do đó Tòa án giải quyết theo thủ tục chung và Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định. Tại phiên tòa, anh H vắng mặt không có lý do nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, niêm yết văn bản tố tụng lần thứ hai. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 của BLTTDS Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị M và Anh Đỗ Văn H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được UBND xã P, huyện H (nay là xã H), tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2020. Như vậy hôn nhân giữa chị M và anh H là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được hai năm thì sảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình thay đổi, bất đồng quan điểm về kinh tế nên thường xuyên sảy ra cãi vã. Năm 2023 anh H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, thời gian đầu vợ chồng còn liên lạc, sau đó tình cảm lạnh nhạt dần nên không còn liên lạc, quan tâm hay trách nhiệm gì với nhau nữa. Như vậy đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị M và anh H đã rơi vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị Trần Thị M được ly hôn anh Đỗ Văn H là phù hợp với tình trạng hôn nhân và quy định tại khoản Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đỗ Ngọc M1, sinh ngày 05/6/2020. Hiện tại cháu M1 đang ở cùng chị M, ly hôn chị M có nguyện vọng được nuôi cháu M1. Xét nguyện vọng của chị M là hợp tình, hợp lý bởi lẽ anh H hiện đang ở nước ngoài không thể có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con như chị M. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, giao cháu Đỗ Ngọc M1 cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.
- Về tài sản và công nợ: Chị Trần Thị M không yêu cầu tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Buộc chị Trần Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Thanh Hóa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35 (được sửa đổi bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội, sửa đỏi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng Dân sự); điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 235; Điều 238; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị M
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị M được ly hôn anh Đỗ Văn H.
- Về con: Công nhận chị Trần Thị M và anh Đỗ Văn H có 01 con chung là cháu Đỗ Ngọc M1, sinh ngày 05/6/2020. Giao cháu Đỗ Ngọc M1 cho chị Trần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Đỗ Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị M không yêu cầu anh Đỗ Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Chị Trần Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị M đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Thanh Hóa theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003058 ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Anh Đỗ Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản bán được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
THẨM
- TAND tỉnh Thanh Hoá;
tòa
- VKSND khu vực 5 – Thanh Hóa;
- Phòng THADS khu vực 5;
- UBND xã Hoa Lộc, tỉnh Thanh Hóa;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
Thẩm phán - Chủ tọa phiên
Lường Thị Hoa
Bản án số 13/2026/HN&GD-ST ngày 05/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 13/2026/HN&GD-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
