|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH Bản án số: 129/2025/HNGĐ-ST Ngày: 31- 12- 2025 “V/v: Ly hôn, nuôi con chung” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tống Thái Dương;
- Bà Vũ Thúy Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mừng- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Ninh Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10- Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 62/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị T; sinh ngày 22-8-1988; số định danh cá nhân: 036188014844; địa chỉ nơi cư trú: Thôn B, xã X, tỉnh Ninh Bình; “vắng mặt”.
- Bị đơn: Ông Lê Đình P, sinh ngày 03-6-1985; số định danh cá nhân: 036085027054; địa chỉ nơi đăng ký ký thường trú: Thôn B, xã X, tỉnh Ninh Bình; “vắng mặt”.
- Người làm chứng: Chị Lê Thanh N; địa chỉ thường trú: Thôn B, xã X, tỉnh Ninh Bình; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Toà án, nguyên đơn bà Ngô Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Đình P tự nguyện tìm hiểu, được UBND xã X, huyện X, tỉnh Nam Định (nay là xã X, tỉnh Ninh Bình) cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 30-9-2006. Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc được vài năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp. Hiện nay ông Lê Đình P đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, còn bà sinh sống, làm việc tại Việt Nam. Do khoảng cách địa lý nên vợ chồng bà không liên lạc và quan tâm gì đến nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ lâu. Hiện tại bà đã nhiều lần liên lạc với ông P để hỏi thông tin địa chỉ cụ thể nơi ông P đang cư trú tại Hàn Quốc để thực hiện thủ tục ly hôn nhưng ông P không cung cấp địa chỉ cho bà để làm thủ tục tại Tòa án. Tuy nhiên bà được biết ông P vẫn thường xuyên liên lạc với con gái là cháu Lê Thanh N nhưng vẫn cố tình giấu địa chỉ cư trú tại Hàn Quốc. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có cơ hội hàn gắn hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Lê Đình P.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Lê Thanh N; sinh ngày 29 tháng 6 năm 2007; Lê Linh Đ; sinh ngày 12 tháng 8 năm 2015 và Lê Tuệ L; sinh ngày 21 tháng 12 năm 2017. Vợ chồng ly hôn bà nhận nuôi 02 con chung chưa thành niên là Lê Linh Đ và Lê Tuệ L, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản bà không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đối với bị đơn ông Lê Đình P: Tòa án đã giao, gửi thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác của Tòa án cho chị Lê Thanh N (là con gái của ông P) nhận thay, đồng thời niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật; nhưng ông P không đến Tòa án để làm việc và cũng không có văn bản trình bày quan điểm của mình đối với vụ án.
Tại các biên bản lấy lời khai, chị Lê Thanh N trình bày: Bố chị là ông Lê Đình P và mẹ chị là bà Ngô Thị T. Bố mẹ chị kết hôn vào năm 2006, bố mẹ chị sinh được 3 người con gồm chị là con cả rồi đến em Lê Linh Đ, sinh năm 2015 và em Lê Tuệ L, sinh năm 2017. Từ khi chị còn nhỏ bố mẹ chị đã về nhà ông bà ngoại ở. Cách đây tám năm bố chị đi lao động tại Hàn Quốc sau đó có về nước vài lần đến đầu năm 2025 bố chị lại tiếp tục sang Hàn Quốc để làm. Bố mẹ chị mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Từ khi bố chị đi lao động tại Hàn Quốc đến nay bố chị vẫn liên lạc thường xuyên với chị nhưng không nói địa chỉ cụ thể cho chị biết để chị cung cấp cho Tòa án. Các văn bản tố tụng của Tòa án giao cho chị để chị gửi cho bố chị, do không có địa chỉ cụ thể chị chỉ liên lạc qua mạng Internet. Do điều kiện công việc bố chị không thể về để giải quyết vụ án ly hôn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại xã X, tỉnh Ninh Bình: Việc kết hôn, chung sống vợ chồng, con chung cơ bản như bà Ngô Thị T trình bày.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án giải quyết cho bà Ngô Thị T ly hôn ông Lê Đình P; về con chung giao bà Ngô Thị T tiếp tục nuôi con chung chưa thành niên là Lê Linh Đ, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2015 và Lê Tuệ L, sinh ngày 21 tháng 12 năm 2017, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con; Về án phí: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Căn cứ Công văn của Phòng Q Công an tỉnh N và tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định ông Lê Đình P đã xuất cảnh sang Hàn Quốc từ ngày 06/01/2025 và đến nay chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, đây là vụ án ly hôn mà một bên đương sự là công dân Việt Nam đang cư trú, làm việc ở nước ngoài, thuộc vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn bà Ngô Thị T cư trú ổn định tại Việt Nam, có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung. Căn cứ các quy định tại Điều 37, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[1.3] Về việc bị đơn ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ cư trú: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ cư trú cụ thể của ông Lê Đình P tại Hàn Quốc. Tuy nhiên, kết quả xác minh và lời khai của người làm chứng thể hiện ông P vẫn thường xuyên liên lạc với người thân trong nước, cụ thể là con chung Lê Thanh N, nhưng không cung cấp địa chỉ cư trú cho Tòa án; đồng thời người thân thích của ông P không thực hiện yêu cầu của Tòa án trong việc cung cấp địa chỉ và thông báo cho ông P biết về việc Tòa án đang giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi nêu trên thể hiện việc bị đơn cố tình giấu địa chỉ cư trú ở nước ngoài nhằm kéo dài, cản trở việc giải quyết vụ án, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và các con chung. Trường hợp này thuộc trường hợp “bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ” theo Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Tòa án không thực hiện ủy thác tư pháp ra nước ngoài mà tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung là phù hợp với quy định pháp luật và đúng tinh thần hướng dẫn nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của đương sự trong nước.
[1.4] Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn bà Ngô Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Lê Đình P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do chính đáng, không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị T và ông Lê Đình P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn kéo dài do bất đồng quan điểm sống, không còn sự quan tâm, chia sẻ và trách nhiệm đối với nhau. Các bên đã sống ly thân trong thời gian dài, không còn điều kiện và khả năng để xây dựng lại đời sống chung. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Đình P không hợp tác với Tòa án, cố tình giấu địa chỉ cư trú, không thể hiện thiện chí đoàn tụ hay hàn gắn quan hệ hôn nhân. Điều này cho thấy tình cảm vợ chồng thực tế đã chấm dứt, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà Ngô Thị T là có căn cứ, cần được chấp nhận.
[3]. Về việc nuôi con chung: Xác định vợ chồng bà Ngô Thị T và ông Lê Đình P có 03 con chung là Lê Thanh N; sinh ngày 29 tháng 6 năm 2007; Lê Linh Đ; sinh ngày 12 tháng 8 năm 2015 và Lê Tuệ L; sinh ngày 21 tháng 12 năm 2017. Con chung Lê Thanh N đã trưởng thành nên không cần giải quyết việc nuôi con. Đối với hai con chung chưa thành niên là Lê Linh Đ và Lê Tuệ L, Hội đồng xét xử xét thấy các cháu hiện đang sinh sống ổn định cùng mẹ từ khi cha đi lao động ở nước ngoài; bà T có điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Trong khi đó, ông P đang cư trú ở nước ngoài, không rõ địa chỉ cụ thể, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc con. Việc giao hai con chung chưa thành niên cho bà Ngô Thị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quyền lợi về mọi mặt của các cháu, bảo đảm sự ổn định về tâm lý, đời sống và môi trường phát triển của con theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con và xét thấy bà T có khả năng nuôi dưỡng con, Hội đồng xét xử không đặt ra việc buộc ông P phải cấp dưỡng là phù hợp quy định pháp luật.
[4] Về án phí: Bà Ngô Thị T là nguyên đơn nên phải nộp án phí ly hôn.
[5] Các đương sự đều vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xử: Cho ly hôn giữa bà Ngô Thị T và ông Lê Đình P.
- Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho bà Ngô Thị T trực tiếp nuôi con Lê Linh Đ, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2015 và Lê Tuệ L, sinh ngày 21 tháng 12 năm 2017. Ông Lê Đình P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc: Bà Ngô Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001226 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Bà Ngô Thị T đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận: - Các đương sự: 02 bản; - VKSND khu vực 10 - Ninh Bình: 01 bản; - VKSND tỉnh Ninh Bình: 01 bản; - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình: 01 bản; - UBND xã Xuân Giang: 01 bản; - Lưu hồ sơ vụ án: 02 bản. |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Duyên |
Bản án số 129/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 129/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
