Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – NINH BÌNH


Bản án số: 128/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 31- 12- 2025
V/v: Ly hôn, nuôi con
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________________________

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tống Thái Dương;

Bà Vũ Thúy Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hồng Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 143/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 2003; số định danh cá nhân: 010303006168; địa chỉ thường trú: Xóm T, xã G, tỉnh Ninh Bình; "vắng mặt".
  • - Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1997; số định danh cá nhân: 036097015546; địa chỉ thường trú: Xóm T, xã G, tỉnh Ninh Bình; "vắng mặt".
  • - Người làm chứng: Ông Phạm Ngọc M, sinh năm 1958; số định danh cá nhân: 049058000295; địa chỉ thường trú: Xóm T, xã G, tỉnh Ninh Bình; "vắng mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Trần Văn T trên cơ sở tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã G (nay là xã G, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 30-11-2023. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn mà không thể giải quyết được, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi cọ, không đồng cảm được với nhau; đến tháng 4 năm 2025, chị và anh T đã sống ly thân. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Gia H, sinh ngày 10-10-2023. Khi ly hôn chị để anh T trực tiếp nuôi con chung.

Về tài sản: Chị không đề nghị giải quyết.

Đối với anh Trần Văn T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giao, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T không trình bày quan điểm và không đến Tòa án để làm việc.

Theo lời khai của người làm chứng ông Phạm Ngọc M Trình bày: Ông là bố dượng của anh Trần Văn T sống cùng nhà với anh T. Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị Minh N chung sống, vợ chồng có mâu thuẫn và đã ly thân từ tháng 4 năm 2025 đến nay, về nguyên nhân mâu thuẫn, ông không rõ. Anh T và chị N có con chung là Trần Gia H, sinh ngày 10-10-2023, cháu đang ở với anh T và ông; anh T bận công việc không lên Tòa án làm việc được anh có nói với ông là đồng ý ly hôn và đồng ý nuôi con chung; nếu Tòa án giao cháu H cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng thì ông sẽ hỗ trợ anh T nuôi cháu H.

Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại xã G, tỉnh Ninh Bình: Việc kết hôn, chung sống vợ chồng, nuôi con chung phù hợp với lời trình bày của các đương sự.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Minh N và anh Trần Văn T; căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cho anh Trần Văn T trực tiếp nuôi con chung Trần Gia H, sinh ngày 10-10-2023.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Nguyễn Thị Minh N có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn Trần Văn T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh N và anh Trần Văn T kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng của chị N và anh T không có hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, anh T không đến Tòa án để làm việc. Như vậy, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Minh N và anh Trần Văn T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Minh N và anh Trần Văn T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình.

[3] Về việc nuôi con: Xác định chị Nguyễn Thị Minh N và anh Trần Văn T có 01 con chung là Trần Gia H, sinh ngày 10-10-2023, hiện con đang được T trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ vào điều kiện nuôi con và nguyện vọng của đương sự, kết quả thu thập chứng cứ, thấy có đủ cơ sở giao cho anh Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Anh Trần Văn T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Chị Nguyễn Thị Minh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp.

[4] Về án phí: Anh Trần Văn T là nguyên đơn nên phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

[5] Các đương sự đều vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Minh N và anh Trần Văn T.
  2. Về việc nuôi con: Căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho anh Trần Văn T trực tiếp nuôi con chung là Trần Gia H, sinh ngày 10-10-2023. Chị Nguyễn Thị Minh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc chị Nguyễn Thị Minh N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0002534 ngày 04- 11- 2025 của Chi thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Chị Nguyễn Thị Minh N đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Vũ Ngọc Duyên

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 128/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger