TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 127/2025/HS-ST
Ngày: 25-12-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Kim Thu
Ông Vũ Văn Khang
Thư ký phiên toà: Ông Văn Đức Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3- Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3-Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3- Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 119/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Đinh Mạnh T, sinh năm 1980 tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố K, phường A, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số H Đ, phường H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Văn M và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ là Nguyễn Thị T1 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2017 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng theo Quyết định số 26/QĐ-TA ngày 20/7/2017 (đã xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ ngày 09/7/2025; tạm giam ngày 18/7/2025; có mặt.
2. Bị cáo Bùi Quang Q, sinh năm 1985 tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường Đ, thành phố Hà Nội; nơi ở: Thôn C, xã K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quang N (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, có vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Bản án số 31/2009/HSST ngày 30/9/2009 Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy xử phạt 24 tháng rù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích); Bản án số 45/2014/HSST ngày 10/3/2014 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án tích); Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 03/QĐ-TA ngày 03 tháng 8 năm 2017 với thời gian 24 tháng của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy (đã xóa); bị cáo bị tạm giữ ngày 10/7/2025; tạm giam ngày 19/7/2025; có mặt.
3. Bị cáo Nguyễn Văn P, sinh năm 1991 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Đ1, có vợ là Lò Thị H1 và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 41/QĐ-TA ngày 28 tháng 9 năm 2023 với thời gian 12 tháng của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (chưa xóa); bị cáo bị tạm giữ ngày 10/7/2025; tạm giam ngày 19/7/2025; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 14 giờ 40 phút ngày 09/07/2025, tại khu vực trước cửa nhà số B đường P, phường H, thành phố Hải Phòng, lực lượng Công an bắt quả tang Đinh Mạnh T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa T về trụ sở Công an phường H làm việc. Tang vật thu giữ của T: Tại vị trí dưới đất chỗ Đinh Mạnh T đang đứng có 01 túi nilon màu trắng kích thước 1,5x2 cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng được gói trong khẩu trang y tế màu đen (mẫu QT); 01 điện thoại Redmi 13, màu xanh đã qua sử dụng có lắp sim số 0987.023.231 và 0967.684.593; số tiền 230.000 đồng (Hai trăm ba mươi nghìn đồng). Trong quá trình bắt quả tang đối với T, tại hiện trường còn có Bùi Quang Q đang nghi vấn nên lực lượng chức năng đưa Q về làm việc, thu giữ của Q: 01 xe mô tô 02 bánh biển kiểm soát 15F1 - 319.63 và 01 điện thoại Redmi màu trắng đã qua sử dụng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Đinh Mạnh T, kết quả: Tại địa chỉ số H Đ, phường H, thành phố Hải Phòng thu giữ được: 01 bình sử dụng ma túy bằng chai nhựa trên nắp được gắn ống hút bằng nhựa màu trắng kích thước khoảng 50cm và 01 tẩu thủy tỉnh bên trong tẩu có chất rắn màu nâu (mẫu KX5); 01 vỏ túi nilon màu trắng có kích thước 4 x 4 cm bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng (mẫu KX6) (bút lục số 141, 142). Tại thời điểm khám xét có Nguyễn Văn P và Nguyễn Hữu H2 đang ở trong nhà và có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã đưa P, H2 về trụ sở làm rõ.
Kết quả kiểm tra đối với nước tiểu của Nguyễn Văn P và Nguyễn Hữu H2 dương tính với ma túy M1.
Tại địa chỉ đăng ký HKTT tổ dân phố K, phường A, thành phố Hải Phòng thu giữ dưới nền phòng ngủ của Đinh Mạnh T 01 túi nilon bên trong có nhiều vỏ túi nilon kích thước khác nhau, bên trong các túi không có gì.
* Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Quang Q tại địa chỉ thôn C, xã K, thành phố Hải Phòng, kết quả:
- Thu giữ dưới đệm đầu giường phòng ngủ của Bùi Quang Q 01 túi nilon màu trắng, kích thước 3 x 3 cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy (ký hiệu KX1);
- Thu giữ trong túi áo khoác trong tủ tại phòng ngủ của Bùi Quang Q gồm: 01 túi nilon màu trắng, kích thước 2 x 2 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (ký hiệu KX2); 01 túi nilon kích thước 2,5 x 2,5 cm bên trong chứa 05 viên nén hình tròn, màu hồng và 01 mảnh viên nén màu hồng (nghi là ma túy) (ký hiệu KX3); 01 túi nilon kích thước 4 x 8 cm bên trong chứa chất bột màu hồng (nghi là ma túy) (ký hiệu KX4); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 bật lửa ga.
* Tại Cơ quan điều tra, Đinh Mạnh T khai nhận: Do không có việc làm ổn định nên khoảng đầu tháng 7 năm 2025, Đinh Mạnh T nảy sinh ý định mua bán ma túy để kiếm tiền tiêu xài. Ngày 01/07/2025 T đi đến khu vực đường P, phường H hỏi mua 01 gói ma túy với giá 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) của 01 người đàn ông không quen biết (cũng có tên T, hiện không xác định được lai lịch, địa chỉ) rồi mang số ma túy trên về chia nhỏ để bán kiếm lời.
Khoảng 11 giờ ngày 09/07/2025, T gọi điện cho Bùi Quang Q hẹn Q đến đón T tại chỗ ở để chở T đi có việc. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/7/2025 Nguyễn Văn P gọi điện hỏi mua của T 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng, hẹn địa điểm giao ma túy là tại chỗ ở của T. Do P không biết chỗ ở của T nên khi P đi đến khu vực phố Chợ H thì T đón và dẫn P đến chỗ ở của mình. Lúc này là khoảng 14 giờ ngày 09/7/2025, tại tầng 1 nhà T có Q đang đứng chờ T về.
Khi về đến nhà, T cùng P đi thẳng lên tầng 2 vào phòng ngủ của T. Tại đây, T lấy 01 túi nilon trong chứa ma túy đưa cho P thì P đưa lại cho T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) rồi T bỏ đi luôn. Trước khi đi xuống dưới tầng 1, T cất giấu trong người 01 túi nilon đựng ma túy rồi nhờ Q chở đến khu vực nhà số B đường P, phường H để bán số ma túy trên. T dự định bán gói ma túy với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Khi đi T không nói cho Q biết là đi bán ma túy.
Tại quán nước nhà số B đường P, phường H, Q ngồi trước, T ngồi sau, cả hai đều ngồi hướng mặt ra đường P. Nhân lúc Q không để ý, T lấy khẩu trang y tế màu đen đang đeo để quấn, bọc gói ma túy lại rồi cầm trong lòng bàn tay. Đến khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, khi Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H phối hợp cùng Công an phường H làm nhiệm vụ kiểm tra thì T đã ném gói ma túy xuống đất tại vị trí T đang đứng. Ngoài các nội dung trên, trong quá trình ghi lời khai, T còn khai nhận vào vào các ngày 08/7/2025 và 09/7/2025 T đã 02 lần bán ma túy cho Bùi Quang Q. Mỗi lần Q đều hỏi mua 500.000 đồng thì được 01 túi ma túy. Các lần mua bán trên đều được thực hiện tại chỗ ở của T. Q đã trả tiền mua ma túy cho T. T đã tiêu xài hết số tiền trên. Đối với số tiền thu giữ của T khi bắt quả tang là do P trả 300.000 đồng tiền mua ma túy và T đã sử dụng 70.000 đồng để thanh toán tiền nước nên khi bị bắt chỉ còn lại 230.000 đồng.
* Tại Cơ quan điều tra, Bùi Quang Q khai báo và thừa nhận do nghiện ma túy nên ngày 07/7/2025 Q hỏi mua của Đỗ Văn H3 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) ma túy thì được H3 đưa cho 06 viên nén tròn màu hồng đựng trong túi nilon.
Sau đó khoảng 19 giờ ngày 08/7/2025 Q liên lạc hỏi mua của T 01 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng, T đồng ý. Lúc này T không có nhà nên đã hướng dẫn Q cách mở cửa và lấy ma túy T cất giấu ở trong gối trên giường ngủ tầng 2. Sau khi lấy được ma túy, Q đem về nhà bẻ ½ viên ma túy hồng phiến nghiền nhuyễn và trộn cùng 01 ít ma túy đá mua của T để sử dụng cho bản thân. Số ma túy đá còn lại Q đem giấu dưới đệm đầu giường ngủ; cất giấu chất bột màu hồng còn thừa sau khi sử dụng cùng 05 viên nén và ½ viên nén ở túi áo khoác trong tủ quần áo.
Đến khoảng 06 giờ ngày 09/7/2025 Q tiếp tục gọi điện cho T để hỏi mua 500.000 đồng thì được 01 túi nilon ma túy đá. T nói với Q vị trí cất giấu ma túy trong tủ trưng bày trên tầng 2 để Q tự lấy. Sau khi mua được ma túy, Q đem về và cất giấu trong túi áo khoác trong tủ quần áo tại phòng ngủ.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn P lúc đầu khai: Ngày 09/7/2025 P đến nhà T và cùng T đi lên tầng 2 thì P nhìn thấy trên giường của T có để sẵn 01 bộ dụng cụ sử dụng bên trong có chứa sẵn ma túy. Lúc này P đưa cho T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mục đích để được T cho sử dụng ma túy. Sau đó khi Cơ quan CSĐT Công an thành phố H khẩn cấp chỗ ở của T thì P đang trong phòng ngủ tầng 2 sử dụng ma túy, kết quả kiểm tra nước tiểu của P dương tính với M1, bản thân P hiện là đối tượng quản lý sau cai nghiện nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã khởi tố bị can đối với P về tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Tuy nhiên sau thời gian đấu tranh làm rõ, Nguyễn Văn P đã khai nhận phù hợp với lời khai của Đinh Mạnh T và thừa nhận: vào ngày 09/7/2025 P liên lạc với T để hỏi mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại phòng ngủ tầng 2 nhà T, P đưa cho T 300.000 đồng thì được T đưa lại 01 túi nilon bên trong có chứa ma túy đá. Sau đó T bỏ đi luôn còn P ở lại nhìn thấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy T để trong tủ nên P lấy bộ dụng cụ ra và đổ ma túy vào, châm lửa tự sử dụng một mình. P đang sử dụng ma túy thì lực lượng Công an đến làm việc, thu giữ số ma túy còn thừa lại bên trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy (mẫu KX3).
Tại bản Kết luận giám định số 445/KL-KTHS ngày 16/7/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:
- -Tinh thể màu trắng của mẫu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,87 gam, loại: Methamphetamine.
- -Tinh thể màu trắng của mẫu KX1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,20 gam, loại: Methamphetamine.
- -Tinh thể màu trắng của mẫu KX2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,68 gam, loại: Methamphetamine.
- - 05 (năm) viên nén màu hồng và 01 mảnh viên nén màu hồng của mẫu KX3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,55 gam, loại: Methamphetamine.
- -Chất bột màu hồng của mẫu KX4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,38 gam, loại: MDMA.
- - Chất bột màu nâu trong tẩu thủy tinh của mẫu KX5 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,13 gam, loại: Methamphetamine.
- -Chất bột màu trắng bám dính trong túi nilon của mẫu KX6 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy trên.
Tại bản Kết luận giám định số 3423/KL - KTHS ngày 05/11/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Trích xuất thông tin 329 danh bạ; 303 cuộc gọi; 09 tin nhắn tức thì; 02 cuộc trò chuyện Facebook; 02 cuộc trò chuyện Facebook Messenger, 10 cuộc trò chuyện Messages; 09 cuộc trò chuyện Zalo: 02 cuộc trò chuyện Zangi trên điện thoại nhân hiệu REDMI có số IMEII: 860777077355164; IMEI2: 860777077355172 đã qua sử dụng (Ký hiệu A1).
Trích xuất thông tin 2972 danh bạ; 3269 cuộc gọi; 02 tin nhắn tức thì; 81 cuộc trò chuyện Facebook; 133 cuộc trò chuyện Facebook Messenger, 173 cuộc trò chuyện Messages; 129 cuộc trò chuyện Zalo trên điện thoại nhãn hiệu REDMI có số IMEI1: 863143065280483; IMEI2: 863143065280491 đã qua sử dụng (Ký hiệu A2)". Không tìm thấy các nội dung có liên quan đến vụ án.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 15F1 - 319.63 thu giữ của Bùi Quang Q, quá trình điều tra xác định được chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên là chị Bùi Thị Đ2 (sinh năm 1983, nơi cư trú đội 2, thôn N, xã K, thành phố Hải Phòng, là chị gái của Bùi Quang Q). Q mượn xe của chị Đ2 để làm phương tiện đi lại, chị Đ2 không biết và không liên quan đến việc Q dùng xe để đi mua ma túy. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại chiếc xe trên cho chị Đ2 quản lý, sử dụng.
Đối với Đinh Mạnh T, T chỉ bán ma túy cho P, không mời, không biết việc P sử dụng ma túy tại nhà mình. Sau khi đưa ma túy cho P thì T cùng Q đi bán ma túy tại khu vực đường P, phường H, do đó không có căn cứ xử lý T về tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với Nguyễn Văn P, do quá trình điều tra đã làm rõ được số ma túy còn lại trong bộ D1 sử dụng ma túy là của P vừa mua xong, mục đích P mua ma túy để sử dụng cho bản thân và đang sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Do vậy hành vi của P bị xem xét xử lý về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, không xem xét xử lý về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với Nguyễn Hữu H2 (H2 là thợ sơn, sửa chỗ ở của T) quá trình điều tra đấu tranh ghi lời khai, Q khai có rủ H2 sử dụng ma túy nhưng H2 không dùng. Kiểm tra nước tiều của H2 dương tính với M2, xác minh lý lịch H2 chưa có tiền án tiền sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính đối với H2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy
Đối với Đỗ Văn H3 (sinh năm 1976, địa chỉ số A M, TDP P, phường H, thành phố Hải Phòng), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã khởi tố bị can, tạm giam đối với Đỗ Văn H3 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 2 Điều 251 BLHS. Do thời hạn điều tra đối với vụ án hình sự khởi tố số 626 ngày 10/7/2025 đã hết, cần tiếp tục thu thập tài liệu làm rõ hành vi, nhân thân của bị can Đỗ Văn H3 và tiếp tục điều tra mở rộng. đồng thời hành vi của Đỗ Văn H3 không ảnh hưởng đến việc truy tố đối với các bị can khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 23180 ngày 05/11/2025 để điều tra, xử lý đối với Đỗ Văn H3.
Đối với đối tượng tên T (bán ma túy cho Đinh Mạnh T), hiện chưa xác định được lai lịch cụ thể nên không có căn cứ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKSKV3 ngày 04/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hải Phòng truy tố bị cáo Đinh Mạnh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, Bùi Quang Q về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Văn P về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà các bị cáo khai nhận như nội dung nêu trên và khẳng định việc truy tố các bị cáo như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng là hoàn toàn chính xác.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Mạnh T mức án từ 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù đến 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 5.000.000 (Năm) triệu đồng đến 10.000.000 (Mười) triệu đồng nộp Ngân sách nhà nước.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Quang Q mức án từ 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Căn cứ Đ3 c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P mức án từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 04 (B) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
V xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy niêm phong số 445MT/PC09 bên trong chứa số ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của các mẫu QT, KX01, KX2, KX3, KX4, KX5, 01 bì giấy niêm phong số 445MT - A/PC09 bên trong chứa vỏ túi nilon của mẫu KX6, 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 bật lửa ga, 01 túi nilon bên trong có nhiều vỏ túi nilon kích thước khác nhau là vật Nhà nước cấm lưu hành cũng như không còn giá trị sử dụng;
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Q xét đây là phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc với nhau trong việc mua bán ma túy nên đề nghị HĐXX tịch thu sung Ngân sách nhà nước;
-Đối với 02 sim điện thoại gắn cùng điện thoại thu giữ của bị cáo Q và T, xét đây là số điện thoại các bị cáo dùng liên lạc với nhau trong việc mua bán trái phép chất ma túy đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy;
- Đối với số tiền 1.300.000 đồng là số tiền T có được do bán ma túy cho Q và P, khi bắt giữ đã thu giữ được số tiền 230.000 đồng, xét đây là tiền do bán ma túy mà có nên đề nghị HĐXX tịch thu sung Ngân sách nhà nước, đối với số tiền 1.070.000 đồng T khai đã chi tiêu hết nên đề nghị HĐXX buộc T phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính này để sung Ngân sách nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-Về hành vi phạm tội:
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng thu giữ, kết luận giám định, các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Trong các ngày 08/7/2025 và ngày 09/7/2025 Đinh Mạnh T đã nhiều lần có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Bùi Quang Q (02 lần) và Nguyễn Văn P để kiếm lời và đang cất giữ trong người 0,87gam ma túy là loại Methamphetamine với mục đích để bán nhưng chưa kịp thực hiện giao dịch thì bị bắt giữ. Như vậy đủ cơ sở kết luận Đinh Mạnh T đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Bùi Quang Q vào ngày 07/7/2025 đã có hành vi mua 06 viên ma túy dạng hình tròn với giá 400.000 đồng của Đỗ Văn H3, sinh năm 1976; địa chỉ số A M, Tổ dân phố P, phường H, Hải Phòng và trong hai ngày 08/7/2025, 09/7/2025 mỗi ngày Q mua 500.000 đồng ma túy đá của T để về sử dụng cho bản thân.
Ngày 09/7/2025, Nguyễn Văn P đã gặp và mua của T 300.000 đồng ma túy đá để sử dụng, khi bị bắt P đang cất giữ 0,13gam ma túy là loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân.
Do đó đã đủ căn cứ xác định các bị cáo Bùi Quang Q và Nguyễn Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về định khung hình phạt: Đinh Mạnh T đã thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy cho Bùi Quang Q trong 02 ngày 08/7/2025 và 09/7/2025 với tổng số tiền là 1.000.000 đồng trong đó xác định được khối lượng bán cho Q là 0,68 gam ma túy là loại M3 và bán cho Nguyễn Văn P lượng ma túy với giá 300.000 đồng, P đã sử dụng 1 phần còn lại lượng xác định được là 0,13 gam Methamphetamine, ngoài ra T còn đang cất giữ trong người 0,87 gam ma túy là loại Methamphetamine để bán kiếm lời thì bị bắt giữ. Hành vi của T nhiều lần đã bán ma túy cho Q và cho P vào ngày 08/7/2025 và 09/7/2025 nên bị cáo đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy với định khung hình phạt phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Bùi Quang Q ngoài việc mua ma túy của Đinh Mạnh T vào các ngày 08/7/2025 và ngày 09/7/2025 thì Q còn thực hiện hành vi mua trái phép chất ma túy là loại MDMA của Đỗ Văn H3 vào ngày 07/7/2025. Tổng lượng ma túy thu giữ của Q sau khi Q khai đã sử dụng là 0,38g MDMA và 1,43 gam Methamphetamine, theo hướng dẫn tại Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng của các chất ma túy ở thể rắn mà Bùi Quang Q tàng trữ là 1,81g, như vậy so với mức tối thiểu của các chất ma túy ở thể rắn được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự thì việc đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa kết luận và giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Bùi Quang Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Lượng ma túy đá thu giữ tại nhà Đinh Mạnh T khi tiến hành khám xét nơi ở của T là 0,13gam Methamphetamine, Nguyễn Văn P đã thừa nhận đây chính là lượng ma túy P mua của T vào ngày 09/7/2025 với mục đích để sử dụng cho bản thân, P đã sử dụng một phần lượng còn lại P sẽ tiếp tục sử dụng thì bị bắt giữ nên P phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội danh Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Hải Phòng đã truy tố là đúng quy định của pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân và là nguyên nhân gây ra một số các tội phạm khác. Do vậy cần bắt các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa xã hội chung đồng thời cũng là tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội cai nghiện ma túy.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn nên Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Bùi Quang Q, sau khi phạm tội đã tự thú về hành vi ngày 07/7/2025 mua ma túy là loại MDMA của Đỗ Văn H3 do đó cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của H3 và khởi tố vụ án Mua bán trái phép chất ma túy đối với H3 nên HĐXX cho bị cáo được hưởng thêm tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Đinh Mạnh T có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống mỹ do đó HĐXX cho bị cáo được hưởng thêm tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt áp dụng với các bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo phạm tội độc lập với nhau không có đồng phạm và chịu trách nhiệm hình sự riêng biệt về hành vi phạm tội của mình. Mặc dù Bùi Quang Q bị bắt giữ khi đi cùng Đinh Mạnh T nhưng Q hoàn toàn không biết việc T nhờ chở đi bán ma túy nên Q không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi bán ma túy cùng với T. Đối với T phạm tội vì mục đích vụ lợi, T bán ma túy nhiều lần, lượng ma túy thực tế T bán không thu giữ được đầy đủ mà chỉ thu giữ được lượng ma túy còn lại là 1,68 gam Methamphetamine.Tuy nhiên xét thấy bản thân bị cáo vì vụ lợi đã bất chấp thực hiện việc bán trái phép chất ma túy là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, hơn nữa hiện nay trên địa bàn thành phố đã triển khai công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy xây dựng thành phố không ma túy do đó để tăng cường đấu tranh phòng chống loại tội phạm này HĐXX xét thấy cần xử bị cáo bằng mức hình phạt nghiêm trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự mới phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo và mới đủ tác dụng phòng ngừa xã hội chung.
Đối với bị cáo Bùi Quang Q trên cơ sở xem xét mức độ nguy hiểm, tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy bị cáo đã được giáo dục, cải tạo 02 lần trong đó có 01 lần về loại tội phạm Tàng trữ trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 31/2009/HSST ngày 30/9/2009 Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy và 01 lần về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 45/2014/HSST ngày 10/3/2014 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, đồng thời bị cáo cũng được áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng theo Quyết định của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, cho dù đến nay tất cả tiền án, tiền sự của bị cáo đều đã được xóa nhưng qua đó cho thấy bị cáo là người được giáo dục nhiều lần nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội nên cần xử lý nghiêm và bắt bị cáo cách ly khởi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo. Tuy nhiên bị cáo đã nhận ra sai lầm của bản thân và đã tự thú về hành vi phạm tội của mình nên HĐXX cũng sẽ cân nhắc để áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi, nhân thân và thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo để bị cáo nhận thấy sự khoan hồng của pháp luật mà quyết tâm rèn luyện, cải tạo bản thân.
Bị cáo Nguyễn Văn P mặc dù bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo đã có 01 tiền sự về việc được áp dụng biện pháp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng với thời gian 12 tháng, bị cáo chấp hành xong và hiện đang trong diện quản lý sau cai nghiện tại địa phương, bị cáo đủ cơ sở nhận thức được tác hại cũng như việc sử dụng ma túy là trái quy định của pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi mua ma túy để sử dụng thỏa mãn ý thích cá nhân của mình nên cần xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Hải Phòng tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung đồng thời cũng là tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện ma túy.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T phạm tội với mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để thu nộp Ngân sách nhà nước.
Bị cáo Q và P hiện không có công việc và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[8] Đối với 01 bì giấy niêm phong số 445MT/PC09 bên trong chứa số ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của các mẫu QT, KX1, KX2, KX3, KX4, KX5; 01 bì giấy niêm phong số 445MT-A/P09 bên trong chứa vỏ túi nilong của mẫu KX6 trên có dấu niêm phong dán kín sau giám định; 02 bộ dụng cụ sử dụng,01 túi nilon bên trong có nhiều vỏ túi nilon khác nhau, trong túi nilon không có gì, 01 bật lửa ga, 02 sim điện thoại. Xét đây là tang vật của vụ án và là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[9] Đối với số tiền 230.000 đồng thu giữ của Đinh Mạnh T, xét đây là số tiền T bán ma túy cho P còn lại sau khi đã sử dụng nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
[10] Đối với số tiền 1.070.000 đồng T bán ma túy cho Q và P, T đã chi tiêu cá nhân hết nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo Đinh Mạnh T phải nộp lại số tiền 1.070.000 đồng thu lợi bất chính để nộp Ngân sách nhà nước.
[11] Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi 13 màu xanh đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng thu giữ của Đinh Mạnh T và 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Redmid màu trắng đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng thu giữ của Bùi Quang Q, xét đây là tài sản của các bị cáo nhưng đã sử dụng vào việc liên lạc mua bán ma túy nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 02 điện thoại và tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại kèm theo.
[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 6 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Đinh Mạnh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Đinh Mạnh T 09 (C) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 09 tháng 7 năm 2025.
Phạt bổ sung bị cáo Đinh Mạnh T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nộp Ngân sách Nhà nước.
2.Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 249; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bùi Quang Q phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bùi Quang Q 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 10 tháng 7 năm 2025.
3.Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Nguyễn Văn P 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 10 tháng 7 năm 2025.
4. Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy niêm phong số 445MT/PC09 bên trong chứa số ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của các mẫu QT, KX1, KX2, KX3, KX4, KX5 và 01 bì giấy niêm phong số 445MT-A/PC09 bên trong chứa vỏ túi nilong của mẫu KX6 đều có dấu niêm phong dán kín sau giám định; 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 túi nilon bên trong có nhiếu vỏ túi nilon khác nhau, trong túi nilon không có gì, 01 bật lửa ga; 02 sim điện thoại;
Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 230.000₫ (Hai trăm ba mươi nghìn đồng) thu giữ của Đinh Mạnh T và 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng thu giữ của Đinh Mạnh T, 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Redmid màu trắng đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng thu giữ của Bùi Quang Q;
Buộc Đinh Mạnh T nộp lại số tiền 1.070.000đ (Một triệu, không trăm bảy mươi nghìn đồng) sung Ngân sách nhà nước
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/12/2025 giữa Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hải Phòng và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Biên lai thu tiền số 0002080, ngày 24/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng thu người nộp tiền Công an thành phố H chuyển khoản vào tài khoản 3949.0.1054178.00000 đơn vị hưởng Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng theo phiếu hoạch toán ngày 23/12/2025 của Ngân hàng V1).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Đinh Mạnh T, Bùi Quang Q, Nguyễn Văn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 127/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 127/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua bán , tàng trữ, sử dụng trái phép ma tuý
