Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

Bản án số: 127/2025/HS-ST

Ngày 29-12-2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.

Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Man và ông Lê Chí Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Chính - Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Bá Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2025/TLST-HS ngày 05/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2025/QĐXXST-HS ngày 16/12/2025 đối với bị cáo:

Lê Đại N, sinh năm 1985 tại Ninh Bình; số CCCD: 036085028973; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 14/8/2019, Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/6/2020. Ngày 26/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (cũ) xử phạt 27 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và thuộc trường hợp “tái phạm”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/11/2023; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 15/8/2025, tạm giam từ ngày 24/8/2025 đến nay; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1973; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 15/8/2025, Lê Đại N đi bộ từ nhà đến khu vực thôn Chanh Thượng, xã Thanh Bình mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, N gặp một người nam giới không quen biết đang ngồi ở ven đường, N hỏi người này: “Anh có biết chỗ nào lấy hàng không?”, hiểu ý N hỏi có biết chỗ nào bán ma túy không nên người nam giới trả lời: “Có”, N lại hỏi: “Anh có không thì để cho em?” thì người này nói: “Đưa tiền đây tao để cho”. Thấy vậy, N lấy trong túi ra số tiền 150.000đồng đưa cho người nam giới, người này cầm tiền rồi đưa lại cho N 01 đoạn ống nhựa màu vàng sọc đỏ được hàn kín hai đầu, N cầm đoạn ống nhựa kiểm tra thấy bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, N biết đó là ma túy nên cầm giữ trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ tìm nơi để sử dụng. Đi được một đoạn, N bị tổ công tác Công an xã Thanh Bình, tỉnh Ninh Bình kiểm tra hành chính, phát hiện thấy cất giấu ma túy trong lòng bàn tay phải nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định.

Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 đoạn ống nhựa màu vàng sọc đỏ được hàn kín hai đầu, kích thước: (1x3)cm bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 mẫu nước tiểu thu của Lê Đại N đựng vào chai nhựa niêm phong ký hiệu M01.

Tại Kết luận giám định số 579/KL-KTHS ngày 22/8/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,161 gam, loại Heroine”.

Tại Kết luận giám định số 606/KL-KTHS ngày 22/8/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Tìm thấy chất Morphine, Codeine trong mẫu nước tiểu ký hiệu M01 gửi giám định”.

Quá trình điều tra, Lê Đại N còn khai nhận ngày 10/8/2025, N đã một mình thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Heroine tại thôn Chanh Thượng, xã Thanh Bình bằng hình thức chích vào cơ thể.

Bản Cáo trạng số 71/CT-VKS-KV5 ngày 04/12/2025 của Viện kiểm sát nhân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố Lê Đại N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Lê Đại N, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điều 38, 47 và 50 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Hình phạt chính: Xử phạt Lê Đại N từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Đại N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đại N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ của vụ án được thẩm tra trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng, lý lịch tư pháp của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Lê Đại N là người đã bị kết án về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Tái phạm” và chưa được xóa án tích. Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 15/8/2025, tại khu vực thôn Chanh Thượng, xã Thanh Bình, tỉnh Ninh Bình, Lê Đại N bị lực lượng Công an xã Thanh Bình, tỉnh Ninh Bình phát hiện, bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 0,161 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 và điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với bị cáo Lê Đại N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

4.1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhân thân xấu do đã nhiều lần bị kết án phạt tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và chưa được xóa án tích.

4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật Hình sự.

4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo...” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có bố đẻ là người có công được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

5.1. Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo là người đã nhiều lần bị kết án về tội phạm ma túy và thuộc trường hợp tái phạm nhưng không chịu lấy đó làm bài học cảnh tỉnh để tu dưỡng bản thân, sống có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục phạm tội mới do cố ý, thể hiện bản chất coi thường pháp luật. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện và nhân thân xấu của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo mới chấp hành xong án phạt tù, không có nghề nghiệp, thu nhập, tài sản riêng; phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (như phạt tiền, tịch thu tài sản...) đối với bị cáo.

[6] Về tình tiết khác của vụ án:

6.1. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Đại N ngày 10/8/2025 tại thôn Chanh Thượng, xã Thanh Bình, tỉnh Ninh Bình, quá trình điều tra do xác định Lê Đại N không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) nên Cơ quan điều tra xác định hành vi của Lê Đại N không cấu thành tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 31/10/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Ninh Bình đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 1.250.000đồng đối với của Lê Đại N về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.

6.2. Đối với người nam giới gặp ở khu vực thôn Chanh Thượng, xã Thanh Bình, tỉnh Ninh Bình ngày 15/8/2025 theo Lê Đại N khai là người đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo để cất giấu, do quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an khu vực tiến hành xác minh làm rõ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, ngoài lời khai của bị cáo ra thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xem xét, xử lý đối với người đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo và làm rõ nguồn gốc số ma túy bị thu giữ theo quy định pháp luật là có căn cứ.

[7] Về xử lý vật chứng đã thu giữ: Đối với toàn bộ số Heroine hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Đại N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2025.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong số 579/KTHS, mặt trước ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT01”, mặt sau có chữ ký và đóng dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.

Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình ngày 05/12/2025.

3. Án phí: Bị cáo của Lê Đại N nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình;
  • - Bị cáo Lê Đại N;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Thanh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 127/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 127/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đại N phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger