Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2025/HS-ST

Ngày 29-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Mạnh Huy
Ông Vũ Văn Tu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Trang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 97/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Vũ Trường S, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1968 tại tỉnh Ninh Bình; số CCCD: [...], cấp ngày 05/10/2022 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi cư trú: tổ I, phường P, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: bác sỹ (hiện đang thực hiện quyết định tạm đình chỉ công tác của Sở Y tế tỉnh N), là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 50-QĐ/UBKTTU của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy N1; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Bá H và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); có vợ là Trần Thị Đ, và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 29/7/2025 đến nay (có mặt).

2. Lê Thị Kim K, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1977 tại tỉnh Bắc Ninh; số CCCD: [...], cấp ngày 13/6/2022 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi cư trú: thôn D, T, xã N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: bác sỹ (hiện đang thực hiện quyết định tạm đình chỉ công tác của Sở Y tế tỉnh N); là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 51-QĐ/UBKTTU ngày 06/8/2025 của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy N1); trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Huy C và bà Lê Thị V; có chồng là Lê Xuân T1 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 29/7/2025 đến nay (có mặt).

3. Phạm Thị H1, sinh ngày 16 tháng 02 năm 1988 tại tỉnh Ninh Bình; số CCCD: [...], cấp ngày 03/10/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi cư trú: thôn C, xã N, tỉnh Ninh Bình; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: nhân viên y tế (hiện làm việc tại Công ty TNHH M1; là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 75-QĐ/ĐU ngày 06/8/2025 của Đảng ủy xã N); dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Cao S1 và bà Chu Thị T2 (đã chết); có chồng là Trần Tiến M và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 29/7/2025 đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Ngô Thị H2 - sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn C, xã N, tỉnh Ninh Bình.
  2. Chị Vũ Thị T3 - sinh năm 1985; nơi cư trú: xã N, tỉnh Ninh Bình.
  3. Chị Trần Mỹ A - sinh năm 1982; nơi cư trú: thôn A, xã N, tỉnh Ninh Bình. (đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Anh Trần Minh C1 - sinh năm 1990; nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam nay là thôn N, xã N, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bệnh viện Đ2 là đơn vị hành chính, sự nghiệp, có địa chỉ tại: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình). Từ ngày 01/7/2025, Bệnh viện Đ2 được đổi tên thành Bệnh viện Đ2, trực thuộc Sở Y tế tỉnh N. Bệnh viện thực hiện chức năng khám chữa bệnh cho nhân dân theo quy định. Cơ cấu tổ chức của bệnh viện tại thời điểm năm 2021-2022 gồm: Vũ Trường S (Phó Giám đốc phụ trách, đến tháng 12/2022 được bổ nhiệm Giám đốc bệnh viện), Lê Thị Kim K (Phó giám đốc bệnh viện), Phạm Thị H1 (Trưởng Phòng kế hoạch tổng hợp), Vũ Thị T3 (Phó trưởng phòng kế hoạch tổng hợp kiêm kế toán trưởng), Trần Mỹ A (kế toán viên), Ngô Thị H2 (kế toán viên) và các khoa, phòng chuyên môn.

Năm 2021, thực hiện chỉ đạo của Sở Y tế tỉnh H (nay là tỉnh Ninh Bình) và Ban C2 19 huyện L (cũ), Bệnh viện Đ2 được giao nhiệm vụ triển khai các biện pháp phòng chống dịch Covid 19 trong đó có nhiệm vụ tiêm phòng vắc xin Covid 19 cho 07 xã phía Nam của huyện L, gồm xã H, T, P, N, X, Nhân T4, N. Để đảm bảo duy trì hoạt động phòng chống dịch, bệnh viện đã làm thủ tục đề nghị cấp ứng kinh phí hỗ trợ phòng chống dịch theo quy định. Ngày 15/11/2021, Sở Y ban hành Quyết định số 560/QĐ-SYT về việc cấp ứng trước ngân sách nhà nước kinh phí cho các đơn vị để thực hiện công tác phòng, chống dịch Covid 19, trong đó kinh phí cấp ứng cho Bệnh viện Đ3 Lý số tiền 352.817.400 đồng. Căn cứ Quyết định cấp ứng kinh phí, Sở T7 đã làm thủ tục chuyển số tiền 352.819.000 đồng đến tài khoản của Bệnh viện Đ2 mở tại Kho bạc Nhà nước huyện L.

Để thực hiện nhiệm vụ tiêm phòng Covid 19, Bệnh viện đã triển khai nhiều đội tiêm lưu động và mua sắm các trang thiết bị vật tư hỗ trợ cho cán bộ nhân viên bệnh viện thực hiện nhiệm vụ tiêm phòng như khẩu trang, bông y tế, găng tay, quần áo bảo hộ phòng chống dịch. Kết quả, trong đợt I năm 2021, Bệnh viện đã thực hiện tiêm phòng Covid 19 cho 7 xã phía Nam của huyện L với tổng số 68.900 liều tiêm (diễn ra trong 47 ngày tiêm). Căn cứ Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 08/02/2021 của Chính phủ về chi phí cách ly y tế, khám, chữa bệnh và một số chế độ đặc thù trong phòng, chống dịch Covid 19 và Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 08/6/2021 của Chính phủ thì “chế độ phụ cấp thường trực chống dịch mức 130.000 đồng/người/ngày; chế độ phụ cấp đặc thù đối với cán bộ y tế trực tiếp tiêm vắc xin phòng Covid 19 trong chương trình tiêm chủng miễn phí tại các cơ sở y tế công lập là 7.500 đồng/liều tiêm tính chung cho cả kíp tiêm (tối đa không quá 150.000 đồng/người/ngày)”. Theo quy định trên thì trong cùng một ngày nếu một người vừa trực dịch vừa tham gia tiêm phòng thì chỉ được chấm một trong hai công trên. Bệnh viện đã áp dụng hình thức tính kinh phí phụ cấp công tiêm theo mức tối đa 150.000 đồng/người/1 ngày, không áp dụng hình thức tính kinh phí theo liều tiêm.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ tiêm phòng Covid 19, Vũ Trường S, Lê Thị Kim K, Phạm Thị H1 đều trực tiếp tham gia tiêm phòng Covid 19 cho người dân, trong đó Vũ Trường S vừa tham gia tiêm vừa chỉ đạo chung công tác tiêm phòng Covid 19, Lê Thị Kim K chịu trách nhiệm phân tích trực và phân công cán bộ đi tiêm, Phạm Thị H1 chấm công tiêm cho cán bộ nhân viên bệnh viện và lên kế hoạch phân công người đi tiêm thực tế tại các điểm tiêm đưa cho K duyệt, ngoài ra H1 phải nhập dữ liệu tổng số mũi tiêm trong ngày lên phần mềm tiêm chủng quốc gia, dự trù vắc xin cần nhập và báo cáo công tác tiêm chủng trong ngày gửi Sở y tế theo quy định. Tuy nhiên, sau khi thực hiện nhiệm vụ được 1 ngày, H1 thấy khối lượng công việc quá nhiều nên đã báo cáo để K trực tiếp chấm công tiêm cho cán bộ nhân viên bệnh viện và theo dõi số lượng mũi tiêm hàng ngày. Qua việc tham gia tiêm và theo dõi công tiêm, K và H1 nhận thấy nếu Bệnh viện áp dụng hình thức tính kinh phí phụ cấp công tiêm theo định mức 150.000 đồng/người/1 ngày thì bệnh viện sẽ không được thanh toán tối đa tiền hỗ trợ kinh phí phòng chống dịch từ nguồn ngân sách nhà nước. Vì vậy, K và H1 đã báo cáo và tham mưu cho Vũ Trường S về việc lập Bảng chấm công phòng chống dịch theo hướng “chấm khống” công tiêm, bằng cách đưa thêm vào danh sách những người không tham gia tiêm trong ngày để chấm khống làm tăng tổng số công tiêm/ngày của bệnh viện so với số công tiêm/ngày thực tế đã tiêm. Sau khi nghe ý kiến đề xuất, Vũ Trường S đồng ý và chỉ đạo K, H1 phối hợp thực hiện lập Bảng chấm công tiêm phòng Covid 19 (gồm cả công chấm thực tế, công chấm khống) và các chứng từ có liên quan để đưa vào hồ sơ thanh toán, rút tiền phụ cấp phòng chống dịch. Số tiền có được do “chấm khống” công tiêm phòng Covid 19, S, K, H1 thống nhất sẽ dùng vào mục đích bồi dưỡng thêm cho những người đi tiêm đêm, cho các ca trực và chi cho các hoạt động chung của bệnh viện nhằm nâng cao uy tín của ban lãnh đạo bệnh viện trong đó có S và K, giúp cho công tác chỉ đạo điều hành được thuận lợi hơn.

Đến cuối tháng 12/2021 Sở y tế yêu cầu bệnh viện lập chứng từ thanh toán phụ cấp phòng chống dịch Covid 19 giai đoạn từ 24/9/2021 đến 30/11/2021, K đã phối hợp cùng với H1 lập Bảng chấm công phòng chống dịch Covid 19 trên máy tính của H1. Trong đó K là người cung cấp số liệu công tiêm thực tế và tính toán số liệu công tiêm chấm khống, số người đưa vào chấm khống trong từng ngày để đọc cho H1 nhập vào Bảng chấm công phòng chống dịch Covid 19 trên máy tính tại phòng làm việc của H1. Tổng cộng K và H1 đã đưa vào Bảng chấm công phòng chống dịch Covid 19 số công tiêm thực tế và công tiêm chấm khống là 1.568 công, tương đương số tiền phụ cấp công tiêm là: 1.568 x 150.000 đồng = 235.200.000 đồng (trong đó công tiêm thực tế là 1.030 công x 150.000 đồng = 154.500.000 đồng, công tiêm chấm khống là 538 công x 150.000 đồng = 80.700.000 đồng). Sau khi lập xong Bảng chấm công phòng chống dịch có 538 công tiêm chấm khống, K báo cáo lại S biết và được S đồng ý với số liệu công tiêm chấm khống trong Bảng. Sau đó, H1 ký vào mục người lập bảng, mục trưởng phòng kế hoạch và chuyển Bảng chấm công phòng chống dịch cùng với các tài liệu liên quan như Bảng tổng hợp báo cáo hàng ngày kết quả triển khai tiêm chủng vacxin phòng Covid 19; Lịch trực phòng chống dịch theo hàng tuần; Quyết định thành lập đội tiêm; Kế hoạch tiêm và phân công nhiệm vụ đội tiêm cho bộ phận kế toán lập hồ sơ thanh toán phụ cấp phòng chống dịch. Căn cứ vào các chứng từ và số liệu trong chứng từ do H1 cung cấp, Ngô Thị H2 - kế toán của bệnh viện, đã lập Tờ trình về việc quyết toán kinh phí phòng chống dịch Covid 19 ngày 06/01/2022; Thuyết minh kinh phí ngân sách nhà nước cấp thực hiện phòng chống dịch Covid 19 từ đề nghị quyết toán; Bảng thanh toán cho đối tượng thụ hưởng; Bảng tổng hợp kinh phí chi trả phụ cấp phòng chống dịch Covid 19; Giấy rút dự toán ngân sách nhà nước và Ủy nhiệm chi ngày 24/01/2022. Sau khi lập xong, H2 mang các chứng từ đến nhà Vũ Thị T3 - Kế toán trưởng của bệnh viện (thời điểm này đang nghỉ chế độ thai sản tại nhà) để đưa Tình ký vào mục “Kế toán trưởng” tại các chứng từ: Bảng tổng hợp kinh phí chi trả phụ cấp phòng chống dịch covid 19; Bảng thanh toán cho đối tượng thụ hưởng; Giấy rút dự toán ngân sách nhà nước; Ủy nhiệm chi ngày 24/01/2022 của bệnh viện. Sau đó, H2 chuyển toàn bộ hồ sơ phụ cấp phòng chống dịch đến Kho bạc Nhà nước huyện L để thanh toán theo quy định.

Ngày 24/01/2022, căn cứ hồ sơ và đề nghị của Bệnh viện, Kho bạc đã chuyển số tiền 265.490.000 đồng vào tài khoản của Bệnh viện Đ2 mở tại Ngân hàng N2 và P, chi nhánh L. Trong đó, thanh toán tiền phụ cấp thường trực phòng chống dịch từ ngày 19/9/2021 đến ngày 30/11/2021 là 30.290.000 đồng; Thanh toán tiền phụ cấp tiêm vacxin từ ngày 24/9/2021 đến ngày 30/11/2021 là: 235.200.000 đồng. Ngày 25/01/2022, căn cứ danh sách đối tượng thụ hưởng của bệnh viện, ngân hàng làm thủ tục chuyển tiền vào tài khoản của từng cán bộ, nhân viên bệnh viện theo đúng số tiền trong “Danh sách đối tượng thụ hưởng” do bệnh viện cung cấp (tổng số 43 người).

Trước khi tiền phụ cấp phòng chống dịch được chuyển vào tài khoản của từng cán bộ, nhân viên bệnh viện, Vũ Trường S đã chỉ đạo Lê Thị Kim K tính toán, lập bảng danh sách số tiền thực lĩnh và số tiền công tiêm chấm khống phải thu hồi của từng người để thu lại số tiền công tiêm đã chấm khống trước đó. Theo chỉ đạo của S, K căn cứ vào số công tiêm thực tế và số công tiêm đã chấm khống cho mọi người trước đó trong Bảng chấm công phòng chống dịch để tính toán ra số tiền thực lĩnh và số tiền công tiêm chấm khống phải thu hồi của từng người. Sau đó K sang phòng làm việc của Ngô Thị H2 - kế toán bệnh viện nhờ H2 lấy bảng “Danh sách đối tượng thụ hưởng” sửa, lập thành bảng “Danh sách thanh toán phụ cấp phòng chống dịch” theo số liệu K đã tính toán. Trong đó K yêu cầu H2 lập thêm các cột: Tổng thực lĩnh (số tiền công tiêm thực tế đã tiêm); Tổng thu hồi (số tiền công tiêm K, H1 đã chấm khống) và K đọc cho H2 nhập số liệu các cột này theo hướng đưa vào danh sách thu hồi tiền công tiêm chấm khống của 40 người với tổng số tiền 78.550.000 đồng, còn 2.150.000 đồng tiền công tiêm chấm khống thì K không đưa vào danh sách thu hồi mà báo cáo với S để lại bồi dưỡng cho 29 người có nhiều ngày trực tiêm đêm vất vả, mỗi người từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Tiếp đó S chỉ đạo H1 thông báo triệu tập cuộc họp toàn thể cán bộ nhân viên bệnh viện. Tại cuộc họp, Vũ Trường S nêu chủ trương sẽ thu hồi lại một phần tiền công tiêm đã chuyển vào tài khoản của mọi người, còn Lê Thị Kim K cầm “Danh sách thanh toán phụ cấp phòng chống dịch” đọc thông báo chi tiết tên từng người, số tiền chuyển về tài khoản, số tiền thực lĩnh theo công tiêm thực tế của từng người và số tiền mọi người phải nộp lại. Sau khi thông báo xong, K yêu cầu mọi người phải nộp lại ngay số tiền theo danh sách cho Trần Mỹ A - kế toán bệnh viện bằng hình thức chuyển khoản hoặc tiền mặt. Đồng thời, tại cuộc họp, Vũ Trường S giao cho Phạm Thị H1 thông báo cho những người vắng mặt biết chủ trương thu hồi tiền công tiêm để họ nộp lại. Kết quả cán bộ nhân viên bệnh viện đã trả lại số tiền công tiêm chấm khống cho bệnh viện là 78.550.000 đồng, trong đó Lê Thị Kim K trả lại 1.200.000 đồng (tương ứng với số công K được chấm khống là 8 công) và Phạm Thị H1 trả lại 350.000 đồng (tương ứng với số công H1 được chấm khống là 3 công), S không được chấm công tiêm khống nên không bị thu hồi.

Sau khi thu hồi được số tiền 78.550.000 đồng, K đã báo cáo và tham mưu cho Vũ Trường S trích ra số tiền 8.650.000 đồng để bồi dưỡng cho 04 cá nhân gồm: S 5.700.000 đồng, Nguyễn Văn T5 2.100.000 đồng, Trần Thị N 700.000 đồng, Trần Minh C1 150.000 đồng do những người này chỉ được chấm công trực dịch, không được chấm công tiêm, S đồng ý với nội dung K tham mưu. Số tiền công tiêm chấm khống còn lại 69.900.000 đồng S giao cho K quản lý và chi tiêu vào việc chung của tập thể bệnh viện như mua sắm đào, quất, hoa quả, bánh kẹo phục vụ tết nguyên đán năm 2022 cho cán bộ nhân viên, mua đồ ăn phục vụ các ca trực đêm của y bác sỹ bệnh viện, đồng thời S chỉ đạo K sử dụng số tiền 43.000.000 đồng để thanh toán công thợ quét vôi ve và thợ sửa chữa điện nước cho một số hạng mục của bệnh viện. Đến khoảng cuối tháng 03/2022, theo chỉ đạo của S, K đã chi tiêu hết số tiền 69.900.000 đồng vào các hoạt động chung của bệnh viện. Đối với Phạm Thị H1 lúc đầu chỉ biết số tiền thu hồi được sẽ chi vào việc bồi dưỡng cho những người đi tiêm đêm vất vả, cho các ca trực còn cụ thể S và K sử dụng số tiền này như nào thì H1 không biết, không tham gia.

Tháng 02/2025, Phòng thanh tra huyện L nhận được đơn tố cáo hành vi của Vũ Trường S trong việc chỉ đạo chấm khống công tiêm phòng Covid 19 năm 2021 cho nhân viên bệnh viện để trục lợi, chiếm hưởng kinh phí hỗ trợ phòng chống dịch, gây thiệt hại ngân sách nhà nước với số tiền hơn 70 triệu đồng. Gửi kèm theo đơn là 01 USB ghi âm cuộc họp nội bộ của bệnh viện thể hiện việc thu hồi tiền công tiêm khống của nhân viên bệnh viện (Ký hiệu A1). Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, Phòng thanh tra huyện L đã chuyển đơn tố cáo và USB ghi âm đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H (nay là tỉnh Ninh Bình) để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình điều tra, Phạm Thị H1 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 02 file ghi âm gồm: 01 tệp video có tên: “Thu hồi công tiêm” (Ký hiệu: A2) và 01 tệp âm thanh có tên: “Ghi âm ông S chỉ đạo” (ký hiệu: A3). Cơ quan điều tra đã lập biên bản thu giữ và đưa vào hồ sơ vụ án.

Ngày 21/4/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định Trưng cầu giám định số 2030/QĐ-CSKT trưng cầu V1, Bộ C3 giám định âm thanh đối với 01 tệp âm thanh có tên “My Video 11.mp4 thu hồi tiền công tiêm”(Ký hiệu: A1); 01 tệp video có tên: “Thu hồi công tiêm” (Ký hiệu: A2) và 01 tệp âm thanh có tên: “Ghi âm ông S chỉ đạo” (ký hiệu: A3) có bị cắt ghép, chỉnh sửa không?; Tệp tin ghi âm tiếng nói của người nói “giọng nữ” có phải của cùng một người không?; Tệp tin ghi âm tiếng nói của người nói “giọng nam” có phải của cùng một người không? Chuyển thể nội dung âm thanh trong mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 thành văn bản. Tại Kết luận giám định số 3298/KL-KTHS ngày 12 tháng 5 năm 2025 của V1 Bộ C3 kết Luận:

  • - Không tìm thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tệp tin mẫu cần giám định; Nội dung hội thoại trong các tệp tin mẫu cần giám định đã được chuyển thành văn bản.
  • - Tiếng nói của người nói giọng nữ xưng “tôi” trong các tệp tin mẫu cần giám định ký hiệu A1 (trong thời gian từ 00 giây đến 4 phút 30 giây), A2 (thời gian từ 00 giây đến 8 phút 20 giây), A3 (thời gian từ 6 giây đến 15 giây) (ký hiệu “Khánh” trong Bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) với tiếng nói của bà Lê thị Kim K trong mẫu so sánh ký hiệu M1 là của cùng một người.
  • - Tiếng nói của người nói giọng nam xưng “tôi” có trong các tệp tin mẫu cần giám định ký hiệu A2 (trong thời gian từ 09 phút 16 giây đến 10 phút), A3 (thời gian từ 00 giây đến 40 giây) (ký hiệu “Sơn” trong Bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) với tiếng nói của ông Vũ Trường S trong mẫu so sánh ký hiệu M2 là của cùng một người.

Sau khi nhận được thông tin có đơn tố cáo, Vũ Trường S đã chỉ đạo Lê Thị Kim K trả lại toàn bộ số tiền đã thu hồi cho nhân viên bệnh viện, trong đó S đưa lại cho K số tiền 5.700.000 đồng, Trần Văn T6 nộp lại 2.100.000 đồng, Trần Thị N nộp lại 700.000 đồng và K tự ứng ra số tiền 68.500.000 đồng (bao gồm cả 150.000 đồng của Trần Minh C1 chưa nộp lại) tổng cộng là 77.000.000 đồng để trả lại cho nhân viên bệnh viện. Trong giai đoạn điều tra các nhân viên Bệnh viện đã tự nguyện nộp lại cho Cơ quan điều tra số tiền 77.000.000 đồng, Trần Minh C1 nộp lại 150.000 đồng, Lê Thị Kim K tự nguyện nộp số tiền 3.700.000 đồng (bao gồm 1.200.000 đồng tiền công tiêm chấm khống của K; 350.000 đồng tiền công tiêm chấm khống của Phạm Thị H1 và 2.150.000 đồng tiền công tiêm chấm khống K đã bồi dưỡng cho 29 nhân viên). Đối với số tiền 68.500.000 đồng là số tiền cá nhân mà K đã tự nguyện bỏ ra trả lại cho nhân viên Bệnh viện để khắc phục hậu quả, K không có đề nghị gì về số tiền này.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Trường S, Lê Thị Kim K và Phạm Thị H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

* Việc xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) USB màu bạc, hiệu Kingston, dung lượng 08GB có chứa 01 (một) tệp âm thanh có tên: “My Video 11.mp4 thu hồi tiền công tiêm.crdownload” (được gửi kèm đơn nặc danh tố cáo ông Vũ Trường S); 01 (một) USB ký hiệu ADATA màu trắng-xanh, dung lượng 16GB có chứa 01 (một) tệp video có tên: “Thu hồi công tiêm.mp4” và 01 (một) tệp âm thanh có tên: “Ghi âm ông S chỉ đạo thông báo cho người nghỉ.m4a” do Phạm Thị H1 giao nộp cho cơ quan điều tra được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Đối với số tiền 80.700.000 đồng do bị cáo Vũ Trường S, Lê Thị Kim K, Phạm Thị H1 và các nhân viên bệnh viện tự nguyện giao nộp và số tiền 150.000 đồng do anh Trần Minh C1 tự nguyện giao nộp. Viện kiểm sát ra quyết định chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình quản lý, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS-P3 ngày 11 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Vũ Trường S, Lê Thị Kim K và Phạm Thị H1 về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 356 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm: các bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân, đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vũ Trường S, Lê Thị Kim K và Phạm Thị H1 phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 356; Điều 17; Điều 36; Điều 58; các điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Vũ Trường S từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ; miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 356; Điều 17; Điều 36; Điều 58; các điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Lê Thị Kim K từ 9 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 356; Điều 17; Điều 36; Điều 58; các điểm b, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị H1 từ 6 tháng đến 9 tháng cải tạo không giam giữ; miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ.
  • * Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  • * Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
  • - Đối với số tiền 80.700.000 đồng các bị cáo tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền 150.000 đồng do Trần Minh C1 tự nguyện nộp, số tiền này bị cáo Lê Thị Kim K đã tự nguyện nộp thay cho C1 trước khi khởi tố vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo K không yêu cầu trả lại số tiền 150.000 đồng. Vì vậy, cần tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 150.000 đồng trên.
  • * Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí tòa án, buộc các bị cáo Vũ Trường S, Lê Thị Kim K, Phạm Thị H1 phải chịu án hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Trong đợt tiêm phòng Covit 19 tháng 9,10,11 năm 2021 cho các xã phía Nam của huyện L, Vũ Trường S - Giám đốc Bệnh viện Đ2 đã bàn bạc, thống nhất và chỉ đạo Lê Thị Kim K - Phó Giám đốc và Phạm Thị H1 - Trưởng phòng kế hoạch tổng hợp của Bệnh viện lập Bảng “chấm khống” 538 công tiêm phòng Covid 19 cho cán bộ nhân viên Bệnh viện đưa vào hồ sơ thanh quyết toán, rút kinh phí hỗ trợ phòng chống dịch số tiền 80.700.000 đồng, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước số tiền 80.700.000 đồng. Sau đó S và K đã sử dụng trái quy định số tiền 80.700.000 đồng vào việc chi bồi dưỡng cho các nhân viên bệnh viện và chi cho các hoạt động chung của bệnh viện, trong đó cá nhân S được hưởng lợi số tiền 5.700.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Vũ Trường S, Lê Thị Kim K và Phạm Thị H1 đã phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự.

Điều 356. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

  1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
  2. ............
  3. ..........
  4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đối với các bị cáo Vũ Trường S, Lê Thị Kim K và Phạm Thị H1 là có căn chấp nhận.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ gây thiệt hại về tài sản cho Nhà nước mà còn xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan tổ chức và ảnh hưởng uy tín của ngành y tế. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo.

Đây là vụ án đồng phạm đơn giản, không có tổ chức chặt chẽ nhưng có sự phân công vai trò rõ ràng. Bị cáo Vũ Trường S là Giám đốc bệnh viện, sau khi được K và H1 tham mưu về phương thức chấm công khống, đã quyết định việc thực hiện và chỉ đạo toàn bộ quá trình, bao gồm lập bảng chấm công khống, thu hồi và sử dụng trái quy định số tiền phụ cấp. Vì vậy, S giữ vai trò chịu trách nhiệm chính trong vụ án.

Bị cáo Lê Thị Kim K là người thực hành tích cực, cùng H1 tham mưu cho S, trực tiếp tính toán số công khống, lập bảng chấm công, cung cấp số liệu và tổ chức thu hồi, quản lý chi tiêu phần lớn số tiền theo chỉ đạo. K giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện hành vi phạm tội.

Bị cáo Phạm Thị H1 chỉ tham gia lập bảng và ký xác nhận theo phân công của K và S, không khởi xướng, không quyết định phương thức chấm khống, không tham gia sử dụng số tiền sai phạm và hưởng lợi không đáng kể. Vì vậy, H1 giữ vai trò giúp sức thứ yếu, cần được xem xét giảm nhẹ phù hợp.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Các bị đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, các bị cáo Vũ Trường S, Lê Thị Kim K và Phạm Thị H1 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo S, K, H1 đã tự nguyện nộp lại tiền để khắc phục hậu quả nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Trong thời gian công tác tại Bệnh viện Đ2, bị cáo S, K, H1 đều là người có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác. Bị cáo Vũ Trường S được UBND tỉnh H tặng Bằng khen năm 2025 vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “Ngành Y tế 70 năm làm theo lời Bác H3 dạy” và B khen năm 2021 vì đã có thành tích trong công tác phòng chống dịch Covid 19, được Bộ trưởng Bộ Y tặng kỷ niệm chương vì sức khỏe nhân dân và đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở 3 năm liên tiếp từ năm 2022 đến 2024 cùng nhiều bằng khen, giấy khen khác. Bị cáo Lê Thị Kim K được Chủ tịch UBND tỉnh H tặng Bằng khen năm 2022 vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác, được Ban chấp hành LĐLĐ tỉnh H tặng Bằng khen năm 2024 vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua lao động giỏi và xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh; được Sở Y tế tặng giấy khen năm 2021 vì đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid 19 và đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở 07 năm liên tiếp từ năm 2018 đến năm 2024 cùng nhiều bằng khen, giấy khen khác. Bị cáo Phạm Thị H1 được UBND tỉnh H tặng Bằng khen năm 2017 vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác từ năm 2016 đến năm 2017 và bằng khen năm 2022 vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác từ năm 2020 đến năm 2021; được Sở y tế tỉnh H tặng Giấy khen năm 2021 vì đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid 19; đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở 5 năm liên tiếp từ năm 2014 đến 2021 và nhiều giấy khen khác. Do vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra bị cáo Vũ Trường S có bố đẻ là ông Vũ Bá H được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, và có bố vợ là ông Trần Quang Q được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba vì có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có vợ là Trần Thị Đông Đ1 nhiều bằng khen, giấy khen trong ngành Kiểm sát; bị cáo Lê Thị Kim K có bố đẻ là ông Lê Huy C được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và Huy chương Chiến thắng hạng Nhất vì đã có thành tích trong thời kỳ kháng chiến, có mẹ đẻ là bà Lê Thị V được nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bị cáo S và K được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều đóng góp trong quá trình công tác, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; số tiền chiếm đoạt các bị cáo sử dụng vào bồi dưỡng những nhân viên có nhiều ngày trực tiêm vất vả và chi tiêu vào việc chung của tập thể bệnh viện. Các bị cáo đều đã tự nguyên nộp lại số tiền chiếm hưởng để khắc phục toàn bộ hậu quả trong vụ án. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy việc bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là không cần thiết, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo các bị cáo và phù hợp với chính sách hình sự nhân đạo. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét thấy các bị cáo đều từng là cán bộ y tế, có nhiều đóng góp cho xã hội nay đã bị cho thôi việc, không có thu nhập nên cần miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi lập khống chứng từ nhằm rút tiền phụ cấp phòng chống dịch từ ngân sách nhà nước, không phải hành vi phạm tội thuộc lĩnh vực chuyên môn y tế và bản thân các bị cáo sau khi khởi tố đã bị cho thôi việc, không có thu nhập. Vì vậy miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Buộc các bị cáo Vũ Trường S, Lê Thị Kim K, Phạm Thị H1 phải nộp lại số tiền đã chiếm đoạt để tịch thu ngân sách nhà nước. Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền nêu trên (số tiền 80.700.000 đồng do các bị cáo Vũ Trường S, Lê Thị Kim K, Phạm Thị H1 và số tiền 150.000 đồng do anh Trần Minh C1 nộp hiện đang trong tài khoản của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình). Riêng đối với số tiền 150.000 đồng bị cáo K đã nộp thay cho anh C1, sau đó anh C1 đã nộp lại. Tại phiên tòa bị cáo K không có yêu cầu nhận lại số tiền nêu trên, do đó cần tịch thu để sung ngân sách Nhà nước.

[6] Về các vấn đề khác có liên quan đến vụ án:

Đối với Ngô Thị H2 là người được giao nhiệm vụ lập hồ sơ thanh toán kinh phí phụ cấp phòng chống dịch Covid 19; Trần Mỹ A là người được giao thu hồi tiền công tiêm của cán bộ nhân viên bệnh viện; Vũ Thị T3 là kế toán trưởng đã ký duyệt vào hồ sơ thanh toán kinh phí phụ cấp phòng chống dịch Covid 19. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, những người này đều không được các bị cáo S, K, H1 bàn bạc, trao đổi, thống nhất về chủ trương chấm tăng khống công tiêm phòng Covid 19 đợt 1 năm 2021. Các nhân viên bệnh viện sau khi được nhận tiền phụ cấp phòng chống dịch vào tài khoản và bị S chỉ đạo thu hồi một phần tiền công tiêm đều không biết đó là tiền công tiêm chấm khống. Do đó không có căn cứ để xử lý đối với Ngô Thị H2, Vũ Thị T3, Trần Mỹ A và các nhân viên bệnh viện.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 356; các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Trường S, Lê Thị Kim K.

Căn cứ khoản 1 Điều 356; các điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Thị H1.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố các bị cáo Vũ Trường S, Lê Thị Kim K và Phạm Thị H1 phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

2. Xử phạt:

- Bị cáo Vũ Trường S 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Ninh Bình nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Giao bị cáo Vũ Trường S cho Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Vũ Trường S có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Bị cáo Lê Thị Kim K 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Ninh Bình nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

- Bị cáo Phạm Thị H1 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Ninh Bình nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Giao các bị cáo Lê Thị Kim K, Phạm Thị H1 cho Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo Lê Thị Kim K, Phạm Thị H1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

3. Về biện pháp tư pháp:

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 80.850.000 đồng (tám mươi triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) do các bị cáo Vũ Trường S, Lê Thị Kim K, Phạm Thị H1 tự nguyện giao nộp.

(Số tiền trên đang quản lý tại Ủy nhiệm chi số 490 lập ngày 17/11/2025 tại Kho bạc nhà nước Khu vực V, đơn vị nhận tiền Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, tài khoản: 3949.0.1054125.00000).

4. Về án phí: Các bị cáo Vũ Trường S, Lê Thị Kim K và Phạm Thị H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tối cao;
  • - CA; VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

  • Số bản án: 126/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger