|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 125/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24-12-2025 V/v ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đồ Văn Nôl.
- Bà Châu Thị Chúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Loan Em là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Cẩm Hường – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đào Thị Mỹ X, sinh ngày 01/01/1976.
Địa chỉ: Ấp M, xã M, thành phố Cần Thơ (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Căn cước công dân số: 094176004405.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc K, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Ấp M, xã M, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
Chứng minh nhân dân số: 365005547.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 7 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đào Thị Mỹ X trình bày:
Chị Đào Thị Mỹ X và anh Nguyễn Quốc K chung sống với nhau từ năm 1993 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã M, thành phố Cần Thơ) vào ngày 26/12/2002. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống vui vẻ, hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không thể tiếp tục sống chung và anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay.
Trong thời gian chung sống, chị X và anh K có hai người con chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 24/11/1994 và Nguyễn Quốc Đ1, sinh ngày 07/05/2005, hiện cả hai cháu đã trưởng thành và có cuộc sống riêng.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.
Về nợ chung: Không có.
Nay chị Đào Thị Mỹ X yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Mỹ X yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Quốc K.
- Về con chung: Cả hai người con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân, không yêu Tòa án cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý vụ án số: 85/TB-TLVA ngày 03 tháng 10 năm 2025 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Nguyễn Quốc K, nhưng anh K không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị X. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh K để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh K vắng mặt không có lý do và chị X có yêu cầu Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và cũng không có lời khai của anh K trong hồ sơ vụ án.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án, xét thấy nguyên đơn, bị đơn thường xuyên mâu thuẫn với nhau do bất đồng quan điểm sống, không còn sống chung với nhau, không hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
- Về con chung: Chị X và anh K có 02 người con chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 24/11/1994 và Nguyễn Quốc Đ1, sinh ngày 07/05/2005. Hiện nay, hai cháu đã thành niên, tự lao động nuôi sống được bản thân, chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị X có đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thủ tục thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền giải quyết: Khi chị Đào Thị Mỹ X khởi kiện thì anh Nguyễn Quốc K; cư trú tại ấp M, xã M, thành phố Cần Thơ. Chị X có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Quốc K. Chị X đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ đã thụ lý đơn khởi kiện và thông báo cho chị X nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và chị X đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định. Như vậy, việc Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ thụ lý đơn khởi kiện của chị Đào Thị Mỹ X là đúng thẩm quyền và đúng theo trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn chị Đào Thị Mỹ X và bị đơn anh Nguyễn Quốc K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Chị X có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và anh K vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt chị Đào Thị Mỹ X và anh Nguyễn Quốc K.
[2] Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Mỹ X, sinh ngày 01/01/1976 và anh Nguyễn Quốc K, sinh năm 1974 tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 102 ngày 26 tháng 12 năm 2002 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Đào Thị Mỹ X và anh Nguyễn Quốc K là hợp pháp.
[4] Xét lý do xin ly hôn của chị Đào Thị Mỹ X, Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng chị X và anh K hạnh phúc được một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng sống không còn hạnh phúc, chị X và anh K không còn sống chung với nhau thời gian dài và đã bỏ mặc nhau làm cho tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị X và anh K trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị X.
[5] Về con chung: Chị X và anh K có 02 người con chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 24/11/1994 và Nguyễn Quốc Đ1, sinh ngày 07/05/2005. Hiện nay, cháu Nguyễn Thành Đ và cháu Nguyễn Quốc Đ1 đã thành niên, tự lao động nuôi sống được bản thân, chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Chị Đào Thị Mỹ X là người có đơn xin ly hôn nên căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, chị X phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đào Thị Mỹ X và anh Nguyễn Quốc K ly hôn.
- Về con chung: Các con chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 24/11/1994 và Nguyễn Quốc Đ1, sinh ngày 07/05/2005 đã thành niên, tự lao động nuôi sống được bản thân, chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị Đào Thị Mỹ X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003518 ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Như vậy, chị Đào Thị Mỹ X đã nộp xong án phí.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Phước Tuấn |
Bản án số 125/2025/HNGĐ-ST ngày 24/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ về ly hôn
- Số bản án: 125/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị X ly hôn anh K
