TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG Số: 125/2025/DS- ST Ngày: 22/12/2025 V/v: “Tranh chấp nợ hụi” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Điền
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Dương Tấn Đấu
- 2. Ông Nguyễn Phước Lộc
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 2- An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 2- An Giang tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Nhung- Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu Vực 2- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 307/2025/TLST- DS, ngày 30 tháng 6 năm 2025, về việc “Tranh chấp nợ hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2025/QĐXXST- DS, ngày 13/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 126A/2025/QĐST- DS, ngày 02/12/2025, giữa:
* Nguyên đơn: Ông Đoàn Hoài P, sinh năm 1985.
CCCD số [...]
Địa chỉ: Tổ H, khu phố D- A, đặc khu P, tỉnh An Giang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
CCCD số [...]
Địa chỉ: Tổ D, khu phố D- A, đặc khu P, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong suốt quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Bà Nguyễn Thị Thu T có tham gia chơi 02 dây hụi do ông Đoàn Hoài P làm chủ hụi, cụ thể như sau:
- Hụi tháng 10.000.000 đồng, khui ngày 20/08/2022 (AL), hụi gồm 28 người tham gia, bà T tham gia 01 chân và cũng là người hốt đầu với số tiền 216.050.000 đồng, sau khi hốt bà T đóng cho ông P được 10 lần với số tiền 100.000.000đồng, còn nợ lại 17 lần với số tiền 170.000.000 đồng.
- Hụi tháng 5.000.000 đồng, khui ngày 10/12/2022 (AL), hụi gồm 27 người tham giam, bà T tham gia 01 chân và cũng là người hốt đầu với số tiền 89.000.000 đồng, sau khi hốt bà T đóng cho ông P được 06 lần vời số tiền là 30.000.000 đồng, còn nợ lại 20 lần với số tiền 100.000.000 đồng.
Tổng số tiền hụi mà bà T còn nợ ông P là: 170.000.000 đồng + 100.000.000 đồng = 270.000.000 đồng.
Bà T cũng thừa nhận nợ số tiền hụi nói trên của ông Đoàn Hoài P, nhưng bà T không có tiền giao trả nên ông P đồng ý cho bà T trả hàng tháng với số tiền 3.000.000 đồng và bà T trả cho ông P được 08 tháng với số tiền 24.000.000 đồng và từ đó đến nay bà T không trả cho ông P nữa, hiện số tiền mà bà T còn nợ ông P là 246.000.000 đồng.
Ông Đoàn Hoài P yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang, xem xét giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Thu T phải giao trả một lần hết số tiền nợ khi bản án có hiệu lực pháp luật với số tiền nợ hụi còn lại 246.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi sáu triệu đồng), ông Đoàn Hoài P không yêu cầu tính lãi suất.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T đã được Tòa án nhân dân Khu Vực 2- An Giang triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, công khai chứng cứ, hòa giải và vắng mặt liên tục 02 lần xét xử nhưng vẫn không có lý do. Do đó, Tòa án không thể ghi nhận được lời khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thảo luận nghị án Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định.
[I]. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ phiên tòa lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà T.
[II]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện và ý kiến trình bày của nguyên đơn, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn ông Đoàn Hoài P với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T là tranh chấp hợp đồng dân sự nợ hụi theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quy định pháp luật để giải quyết trong vụ án này tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị định chính phủ số 19/2019/NĐ- CP, ngày 19/0/2019 về họ, hụi, biêu, phường. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu Vực 2- An Giang.
[III]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Hoài P về việc buộc bà Nguyễn Thị Thu T trả lại cho Đoàn Hoài P số tiền nợ từ việc tham gia chơi hụi là 246.000.000đồng (Hai trăm, bốn mươi sáu triệu đồng), trả một lần hết số tiền nợ khi bản án có hiệu lực pháp luật và không yêu cầu bà T trả tiền lãi suất là có căn cứ chấp nhận, Bởi lẽ:
Tại các văn bản thể hiện danh sách các thành viên tham gia các dây hụi cùng với bà T và các thông tin xác nhận nợ của bà T kèm theo lời khai trùng khớp thông tin từ ông Đoàn Hoài P cung cấp. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định, bà Nguyễn Thị Thu T có tham gia chơi 02 dây hụi tháng do ông Đoàn Hoài P làm chủ, cụ thể
- Hụi tháng 10.000.000 đồng, khui ngày 20/08/2022 (AL), hụi gồm 28 người tham gia, bà T tham gia 01 chân và cũng là người hốt đầu với số tiền 216.050.000 đồng, sau khi hốt bà T đóng cho ông P được 10 lần với số tiền 100.000.000đồng, còn nợ lại 17 lần với số tiền 170.000.000 đồng.
- Hụi tháng 5.000.000 đồng, khui ngày 10/12/2022 (AL), hụi gồm 27 người tham giam, bà T tham gia 01 chân và cũng là người hốt đầu với số tiền 89.000.000 đồng, sau khi hốt bà T đóng cho ông P được 06 lần vời số tiền là 30.000.000 đồng, còn nợ lại 20 lần với số tiền 100.000.000 đồng.
Tổng số tiền hụi mà bà T còn nợ ông P là: 170.000.000 đồng + 100.000.000 đồng = 270.000.000 đồng.
Bà T cũng xác nhận qua các tin nhắn gửi đến ông P về số tiền nợ hụi nói trên của ông Đoàn Hoài P, nhưng do không có tiền trả nên ông P đồng ý cho bà T trả hàng tháng với số tiền 3.000.000 đồng và bà T trả cho ông P được 08 tháng với số tiền 24.000.000 đồng và từ đó đến nay bà T không trả cho ông P nữa, hiện số tiền mà bà T còn nợ ông P là 246.000.000 đồng (Hai trăm, bốn mươi sáu triệu đồng).
Do đó, buộc bà Nguyễn Thị Thu T phải có nghĩa vụ trả cho ông Đoàn Hoài P tổng số tiền 246.000.000đồng (Hai trăm, bốn mươi sáu triệu đồng là phù hợp quy định pháp luật.
[IV]. Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Hoài P được Hội đồng xét xử chấp nhận nên ông P không phải chịu án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.750.000 đồng (Sáu triệu, bảy trăm, năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012793, ngày 12/6/2025 tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí trên số tiền phải trả 246.000.000 đồng= 246.000.000 đồng x 5% = 12.300.000 đồng tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các Điều 5, 26, 35, 39, 147 227, 228, 264, 266, 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ- CP, Ngày 19/02/2019 của chính phủ quy định về Hụi, họ, biêu, phường;
- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Hoài P đối với bà Nguyễn Thị Thu T.
- Buộc bà Nguyễn Thị Thu T phải trả cho ông Đoàn Hoài P số tiền là 246.000.000 đồng (Hai trăm, bốn mươi sáu triệu đồng) trả một lần hết số tiền nợ khi bản án có hiệu lực pháp luật và không tính lãi suất.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án bên phải thi hành án không trả số tiền trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí:
Nguyên đơn ông Đoàn Hoài P không phải chịu án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.750.000 đồng (Sáu triệu, bảy trăm, năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012793, ngày 12/6/2025 tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T phải nộp án phí trên số tiền phải trả 246.000.000 đồng= 246.000.000 đồng x 5% = 12.300.000 đồng tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông P và bà T vắng mặt tại phiên toà nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để xin xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lâm Thanh Điền |
Bản án số 125/2025/DS- ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG về tranh chấp nợ hụi
- Số bản án: 125/2025/DS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp nợ hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: doan hoai p - nguyen thi thu t
