|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HUẾ THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 124/2025/HS-ST Ngày: 25-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mộng Trinh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Cương
- Bà Trần Thị Bích Thủy
- - Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Minh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh ngày 17 tháng 03 năm 1990 tại thành phố H; giới tính: Nam; CCCD số 046090010984 do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C1 cấp; nơi đăng ký thường trú: 47 Hồ N, phường A, thành phố H; nơi ở hiện nay: D Á, phường T, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M; chưa có vợ; có 01 con sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/8/2025 và chuyển tạm giam từ ngày 13/8/2025; có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Hồ Hoàng V, sinh năm 1999; địa chỉ: Số E N, phường A, thành phố H; vắng mặt.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Đức P; sinh năm 1987; địa chỉ: Số A T, phường A, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 07/8/2025, Nguyễn Văn D gặp một nam thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch tên là B tại đường N, phường T, thành phố H, thì D hỏi B có biết chỗ nào bán ma túy không để mua giúp D 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) ma túy loại hồng phiến để sử dụng thì B đồng ý. Sau đó B liên lạc cho người nào đó thì D không rõ rồi B nói với D là chạy qua đường T, phường P, thành phố H (đối diện chợ Đ) để chờ nhận ma túy. D đồng ý rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75F1-879.96 qua đường T, phường P, thành phố H. Tại đây, D gặp được người bán ma túy, người này hỏi D có phải em của B không, D nói phải và người này đã đưa cho D 01 gói ni lông bên trong chứa 23 viên nén màu đỏ và 01 viên nén màu xanh đều là ma túy hồng phiến, D đưa tiền cho người này rồi bỏ đi. Sau khi mua được ma túy, D bỏ gói ni lông ma túy vào túi quần bên phải đang mặc trên người và đi tìm địa điểm để sử dụng đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, khi D chạy đến trước số nhà B L, phường A, thành phố H thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma tuý trong người D.
Cơ quan Cảnh sát Công an thành phố H đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Văn D. Kết quả Nguyễn Văn D dương tính với chất ma túy tổng hợp.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở tại địa chỉ phòng trọ số C đường D Á, phường T, thành phố H không phát hiện và thu giữ thêm đồ vật, tài liệu nào liên quan đến vụ án.
Vật chứng, đồ vật tạm giữ:
- - 01 (một) xe mô tô hiệu HONDA, loại Wave, màu trắng, biển kiểm soát 75F1- 879.96, đã qua sử dụng dứng tên Hồ Hoàng V;
- - 01 (một) gói ni long màu kem, bên trong có chứa 23 viên nén màu đỏ và 01 viên nén màu xanh;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone 11 Promax, có số Seri: FCJCD11HN70D, đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 539/KL-KTHS ngày 11/8/2025 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận:
- - 23 (Hai mươi ba) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ gửi giám định (nêu tại mục 1.1, phần II) có tổng khối lượng là 2,2517g (hai phẩy hai năm một bảy gam) là ma túy, loại Methamphetamine.
- - Viên nén có dạng hình trụ tròn màu xanh gửi giám định (nêu tại mục 1.2, phần II) có khối lượng là 0,0923g (không phẩy không chín hai ba gam) là ma túý, loại Mathamphetamine.
Như vậy, tổng trọng lượng ma tuý loại Methamphetamine mà D tàng trữ là 2,344 gam (hai phẩy ba bốn bốn).
Sau khi giám định, Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục tạm giữ gồm:
- + 2,1017g (Hai phẩy một không một bảy) mẫu bột được nghiền từ 23 (hai mươi ba) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ (nêu tại mục 1.1, phần II);
- + Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định. Tất cả được niêm phong theo quy định.
Đối với viên nén có dạng hình trụ tròn màu xanh (nêu tại mục 1.1, phần II) không hoàn lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H vì đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tất cả được niêm phong theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSKV1 ngày 19 tháng 11 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1, thành phố H đã truy tố Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Huế giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù, kể từ ngày tạm giữ 07/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 2,1017g (Hai phấy một không một bảy gam) mẫu bột được nghiền từ 23 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định
- - Trả lại cho Nguyễn Văn D 01 xe mô tô hiệu HONDA, loại Wave, màu trắng, biển kiểm soát 75F1- 879.96, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu iphone 11 Promax đã qua sử dụng.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, đủ căn cứ kết luận:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/8/2025, tại trước nhà số B đường L, phường A, thành phố H, Nguyễn Văn D đã bị Cơ quan Công an phát hiện tàng trữ trái phép 2,344 gam (hai phẩy ba bốn bốn gam) ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm nghiêm trọng đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Do đó, cáo trạng số 01/CT-VKSKV1 ngày 19 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, thành phố H truy tố bị cáo Văn D theo tội danh và điều khoản đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn D thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn D không phạm vào tình tiết tăng nặng nào; Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 2,1017g (Hai phẩy một không một bảy gam) mẫu bột được nghiền từ 23 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ cùng vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định;
- - Trả lại cho Nguyễn Văn D 01 xe mô tô hiệu HONDA, loại Wave, màu trắng, biển kiểm soát 75F1- 879.96 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu iphone 11 Promax đã qua sử dụng.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 07/8/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 2,1017g (Hai phẩy một không một bảy gam) mẫu bột được nghiền từ 23 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ cùng vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định;
- - Trả lại cho Nguyễn Văn D 01 xe mô tô hiệu HONDA, loại Wave, màu trắng, biển kiểm soát 75F1- 879.96, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu iphone 11 Promax đã qua sử dụng.
(Các vật chứng trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/12/2025 giữa phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Huế và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Mộng Trinh |
Bản án số 124/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 124/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn văn Dũng
