Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26-12-2025

V/v “Tranh chấp ly hôn, con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh

Bà Ngô Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4- Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4- Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4- Bắc Ninh tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 175/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02/12/2025 giữa các đương sự:

  • -Nguyên đơn: Chị Đào Thị T, sinh năm 2000 (có đơn xin vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn P, xã B, tỉnh Bắc Ninh.
  • -Bị đơn: Anh Nông Xuân T1, sinh năm 1990 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn P, xã B, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn xin ly hôn cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Đào Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị đăng kết hôn với anh Nông Xuân T1 ngày 15/10/2018 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Nay là UBND xã B, tỉnh Bắc Ninh). Trước khi kết hôn hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận, sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau ngay. Thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến khoảng đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị T đi làm ăn xa, chị nghi ngờ anh T1 ở nhà quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác nên vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống và làm ăn, phát triển kinh tế gia đình. Do vợ chồng mâu thuẫn nên đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị làm đơn xin được ly hôn với anh Nông Xuân T1.

-Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung là Nông Thu H, sinh ngày 16/9/2018. Hiện con khỏe mạnh, phát triển bình thường, đang ở cùng gia đình anh T1. Vợ chồng ly hôn chị đề nghị giao con chung cho anh Nông Xuân T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

-Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Đào Thị T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Đào Thị T có đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên và xin xét xử vắng mặt.

*Bị đơn anh Nông Xuân T1 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Nông Văn T2 (là bố đẻ) nhận thay và cam kết giao, thông báo cho anh T1 theo quy định của pháp luật. Nhưng anh T1 không có văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải nhưng anh T1 vắng mặt mà không có lý do nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa anh Nông Xuân T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai không có lý do.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4- Bắc Ninh tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn chị Đào Thị T từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa chị T có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Nông Xuân T1 không chấp hành nghiêm quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án anh T1 từ chối cung cấp lời khai, không đưa ra ý kiến quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đào Thị Tuyết . Tại phiên tòa anh T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt lần hai không có lý do.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị T được ly hôn anh Nông Xuân T1.
  • -Về con chung: Giao anh Nông Xuân T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nông Thu H, sinh ngày 16/9/2018. Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn chị Đào Thị T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tiến hành tố tụng đảm bảo tuân theo đúng quy định của của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa chị Đào Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nông Xuân T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai những vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị T và anh Nông Xuân T1 đăng ký kết hôn ngày 15/10/2018 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Nay là UBND xã B, tỉnh Bắc Ninh), trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống chị T xác nhận trong quan hệ hôn nhân vợ chồng có mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị T đi làm ăn xa, chị nghi ngờ anh T1 ở nhà quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác nên vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Phía chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nông Xuân T1. Quá trình giải quyết vụ án anh T1 không có lời khai, văn băn nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Tuy nhiên, tại biên bản ghi lời khai ngày 06/11/2025 ông Nông Văn T2 (bố đẻ anh T1) có lời khai xác định các văn bản tố tụng Tòa án giao cho anh T1, ông có nhận và giao, thông báo lại cho anh T1 biết. Anh T1 đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị T. Tuy nhiên vì công việc bận đi làm xa thỉnh thoảng mới về, nên anh T1 không đến Tòa án làm việc để đưa ra ý kiến quan điểm đối với yêu cầu của chị T.

Hội đồng xét xử xét thấy, chị T và anh T1 trong thời gian chung sống vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn chị T và anh T1 đang sống ly thân từ đầu năm 2020 đến nay, anh chị không có khả năng đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẫn tình cảm giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Đào Thị T được ly hôn anh Nông Xuân T1.

[3] Về con chung: Chị Đào Thị T và anh Nông Văn T3 có một con chung là Nông Thu H, sinh ngày 16/9/2018. Hiện các con khỏe mạnh, phát triển bình thường đang ở cùng gia đình anh T3. Vợ chồng ly hôn chị T đề nghị giao con chung cho anh T3 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Phía anh T3 quá trình giải quyết vụ án không đưa ra ý kiến quan điểm. Nhưng tại biên bản làm việc ngày 06/11/2025 với ông Nông Văn T2 (là bố đẻ) của anh T3 trình bày: Anh T3 đồng ý nuôi con chung theo yêu cầu của chị T và nguyện vọng của cháu H.

HĐXX xét thấy việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cần cân nhắc đến quyền lợi ích hợp pháp của trẻ em, để đảm bảo các con của anh chị được chăm sóc, giáo dục đầy đủ về mặt thể chất, tinh thần, cần giao cho anh Nông Xuân T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nông Thu H, sinh ngày 16/9/2018 là phù hợp với nguyện vọng của chị T, cháu H và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đào Thị T không đề nghị gì, phía anh Nông Xuân T1 không đưa ra ý kiến quan điểm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, chị Đào Thị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Đào Thị T và anh Nông Xuân T1 không yêu cầu, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Đào Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0001275 ngày 07/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị T được ly hôn anh Nông Xuân T1.
  2. Về con chung: Giao anh Nông Xuân T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nông Thu H, sinh ngày 16/9/2018. Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn chị Đào Thị T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Buộc chị Đào Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0001275 ngày 07/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận chị Đào Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • - VKSND Khu vực 4- Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS Khu vực 4- Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Bảo Đài;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 TỈNH BẮC NINH về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 121/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị T, anh TR- ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger