Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 121/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-12-2025

V/v “Tranh chấp về ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Duy Thụy.
  2. Ông Lý Tuấn Phong.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 tham gia phiên tòa: Bà Trần Yến Thương – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 205/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 340/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh B, sinh năm 1981 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Cư trú: Số D, khóm T, phường M, tỉnh An Giang.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1972 (có mặt).
  • Cư trú: Số D, khóm T, phường M, tỉnh An Giang.
  • Địa chỉ: Khóm T, phường L, An Giang.

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh B và ông Nguyễn Hoàng D do tìm hiểu rồi quen biết nhau, sau đó được hai bên gia đình thống nhất ông bà tiến đến hôn nhân và có tổ chức đám cưới vào năm 2005, nhưng không có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi kết hôn ông bà sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cách sống tính tình không phù hợp nhau. Nay bà Nguyễn Thị Thanh B yêu cầu Toà án giải quyết việc hôn nhân giữa bà và ông Nguyễn Hoàng D theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng ông bà có hai con chung tên Nguyễn Hoàng D1, sinh ngày 14/3/2007 và Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 03/6/2009. Đối với Nguyễn Hoàng D1 hiện đã trưởng thành có khả năng lao động và tự lập được, không yêu cầu Toà án giải quyết. Khi ly hôn bà yêu cầu trực tiếp trong nôm, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng H, không yêu cầu ông D cấp dưỡng việc nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại tờ tự khai đề ngày 02/12/2025, bị đơn ông Nguyễn Hoàng D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về quá trình đi đến hôn nhân. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông không đồng ý vì ông còn thương vợ và con.

Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng D1, sinh ngày 14/3/2007 và Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 03/6/2009. Khi ly hôn thì ông yêu cầu trực tiếp trong nôm, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng H, không yêu cầu bà B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vẫn giữ nguyên lời trình bày là không đồng ý ly hôn, vì còn thương vợ thương con, thừa nhận vợ chồng đã ly thân khoảng 01 năm, nhưng việc ly thân là do ông bị ép buộc chứ ông vẫn còn muốn sống chung với vợ.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn có mặt tại phiên tòa là đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị căn cứ Điều 14, 15 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà B và ông D.
  • - Về con chung: Đề nghị giao cháu H cho bà B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.
  • - Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
  • - Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
  • - Về án phí: Đề nghị đương sự chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn Tòa án nhân dân khu vực 9, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà B và ông D chung sống nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng đã ly thân. Nay tình cảm không còn bà B yêu cầu ly hôn ông D. Ông D không đồng ý vì cho rằng ông còn thương vợ thương con.

Xét, bà B và ông D sống với nhau như vợ chồng, đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn là không phù hợp quy định pháp luật tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Thời gian chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn, bà B có đơn xin xét xử vắng mặt, cho thấy bà B toàn toàn không muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với ông D. Đồng thời ông bà ly thân đã lâu, nên bà B yêu cầu ly hôn với ông D là có cơ sở. Tuy nhiên, bà B và ông D không đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng của ông bà.

[2.2] Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng D1, sinh ngày 14/3/2007 và Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 03/6/2009. Hiện cháu D1 đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà B, ông D đều yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H.

Xét từ khi ly thân bà B là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu, ông D không cùng bà B chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, cháu H có nguyện vọng được sống chung với bà B. Xét yêu cầu của bà B, nguyện vọng của cháu H và để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của cháu, tạo điều kiện cho cháu H được ổn định tinh thần, sinh sống và học tập, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu H cho bà B được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Bà Nguyễn Thị Thanh B cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Nguyễn Hoàng D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thanh B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Xử:

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Thanh B với ông Nguyễn Hoàng D.
  2. 2. Về con chung:
    1. 2.1. Bà Nguyễn Thị Thanh B với ông Nguyễn Hoàng D có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng D1, sinh ngày 14/3/2007 và Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 03/6/2009. Hiện cháu Nguyễn Hoàng D1 đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    2. 2.2. Giao cháu Nguyễn Hoàng H cho bà Nguyễn Thị Thanh B được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Bà Nguyễn Thị Thanh B cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Nguyễn Hoàng D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  1. 2.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thanh B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. 3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. 4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004420, ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
  4. 5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND KV9;
  • - THADS tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Thi

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Thụy Lý Tuấn Phong

Lê Thị Hồng Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 121/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà B được ly hôn ông D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger