Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – NINH BÌNH


Bản án số: 121/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26-12-2025
V/v: Ly hôn, nuôi con
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Hùng;

Bà Hoàng Thị Lan.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Hồng Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 108/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh ngày 29 tháng 7 năm 1996; số định danh cá nhân: 036096006267; địa chỉ thường trú: Xóm H, xã G, tỉnh Ninh Bình; "vắng mặt".

- Bị đơn: Chị Vũ Thị Á, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2002; số định danh cá nhân: 036302003222; địa chỉ thường trú: Xóm E, xã G, tỉnh Ninh Bình; "vắng mặt".

- Người làm chứng: Ông Vũ Xuân T, sinh năm 1958; số định danh cá nhân: 036064022707; địa chỉ thường trú: Xóm E, xã G, tỉnh Ninh Bình; "vắng mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Toà án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Vũ Thị Á đã tìm hiểu và kết hôn với nhau vào ngày 11-02-2020 tại UBND xã G (nay là xã G, tỉnh Ninh Bình). Vợ chồng sống hòa thuận được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau và không có tiếng nói chung; Vợ chồng anh đã ly thân từ năm 2022. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nữa nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vũ Thị Ánh

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Cẩm L, sinh ngày 11-01-2020. Hiện nay cháu L đang ở với anh, khi ly hôn anh đề nghị trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu chị Á cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Anh không đề nghị giải quyết.

Đối với chị Vũ Thị Á: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giao, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Á nhưng chị Á không trình bày quan điểm và không đến Tòa án để làm việc.

Theo lời khai của người làm chứng ông Vũ Xuân T là bố đẻ của bị đơn trình bày: Chị Vũ Thị Á và anh Nguyễn Văn C kết hôn vào ngày 11-02-2020, chị Á và anh C phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2022 đến nay, về nguyên nhân mâu thuẫn, ông không nắm rõ. Chị Á và anh C có con chung là Nguyễn Thị Cẩm L, sinh ngày 11-01-2020, hiện nay cháu L đang ở với anh C. Chị Á bận công việc không đến Tòa án làm việc được chị có nói với ông là đồng ý ly hôn, đồng ý để cho anh C nuôi con chung.

Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại xã G, tỉnh ninh Bình: Việc kết hôn, chung sống vợ chồng, nuôi con chung phù hợp với lời trình bày của các đương sự.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn C và chị Vũ Thị Á; căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cho anh Nguyễn Văn C trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Thị Cẩm L, sinh ngày 11-01-2020.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chị Vũ Thị Á được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn C và chị Vũ Thị Á kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng của anh C và chị Á không có hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân trong nhiều năm, chị Á không đến Tòa án để hoà giải đoàn tụ. Như vậy, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn C và chị Vũ Thị Á đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn C và chị Vũ Thị Á là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình.

[3] Về việc nuôi con: Xác định anh Nguyễn Văn C và chị Vũ Thị Á có 01 con chung là Nguyễn Thị Cẩm L, sinh ngày 11-01-2020, hiện con đang được anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ vào điều kiện nuôi con và nguyện vọng của đương sự, kết quả thu thập chứng cứ, thấy có đủ cơ sở giao cho anh Nguyễn Văn C trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Anh Nguyễn Văn C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Chị Vũ Thị Á có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp.

[4] Về án phí: Anh Nguyễn Văn C là nguyên đơn nên phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

[5] Các đương sự đều vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn C và chị Vũ Thị Á.
  2. Về việc nuôi con: Căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho anh Nguyễn Văn C trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Thị Cẩm L, sinh ngày 11-01-2020. Chị Vũ Thị Á có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc anh Nguyễn Văn C phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0001912 ngày 17- 10- 2025 của Chi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Anh Nguyễn Văn C đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  5. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 10 - Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND xã Giao Hưng;
  • - Lưu hồ sơ.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Vũ Ngọc Duyên
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 121/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger