TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 120/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26-12-2025
V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Duy Thụy.
- Ông Lý Tuấn Phong.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 tham gia phiên tòa: Ông Hồ Duy Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 203/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025, về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 341/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Minh T, sinh năm 1992 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cư trú: Tổ 06, ấp M, xã M, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Cư trú: Tổ 20, ấp M, xã M, tỉnh An Giang.
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Minh T và ông Bùi Văn H do tìm hiểu rồi quen biết nhau, sau đó được hai bên gia đình đồng ý ông bà tiến đến hôn nhân và có tổ chức lễ cưới, đến ngày 17/10/2013 ông bà có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, hôn nhân lần thứ nhất của ông bà.
Sau khi kết hôn ông bà sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cách sống tính tình không phù hợp nhau. Nay bà Lê Thị Minh T yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Bùi Văn H.
Về con chung: Bà Lê Thị Minh T và ông Bùi Văn H có 02 con chung tên Bùi Văn L, sinh ngày 11/10/2013 và Bùi Phước T1, sinh ngày 07/8/2023. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu trực tiếp trong nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 9, 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà T được ly hôn ông H.
- Về con chung: Đề nghị giao cháu L và cháu T1 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị không xem xét.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, nuôi con, bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã M - An Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông H chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án mở các phiên hòa giải để hòa giải, động viên đoàn tụ nhưng ông H vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, bỏ mặc cho bà T tự giải quyết, không quan tâm đến việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Xét, mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ gắn bó lâu dài và bền vững, vợ chồng phải thương yêu chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, cùng chung tay nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, sống chung với nhau, nhưng ông bà đã ly thân, ông bà đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà T yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
[2.2] Về con chung: Bà T và ông H có 02 (hai) con chung tên Bùi Văn L, sinh ngày 11/10/2013 và Bùi Phước T1, sinh ngày 07/8/2023. Hiện con chung đang chung sống với bà, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Từ khi phát sinh mâu thuẫn ông H không cùng bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xét yêu cầu của bà T, nguyện vọng của cháu L và để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của các cháu, tạo điều kiện cho các cháu được ổn định tinh thần, sinh sống và học tập, Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 cháu L và T1 cho bà T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Bà Lê Thị Minh T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Bùi Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[2.3] Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Lê Thị Minh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 328, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Minh T. Bà Lê Thị Minh T được ly hôn ông Bùi Văn H.
2.1. Bà Lê Thị Minh T và ông Bùi Văn H có 02 (hai) con chung tên Bùi Văn L, sinh ngày 11/10/2013 và Bùi Phước T1, sinh ngày 07/8/2023.
2.2. Giao 02 cháu L và T1 cho bà Lê Thị Minh T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Bà Lê Thị Minh T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở, gây khó khăn ông Bùi Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Lê Thị Minh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004422 ngày 15 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Duy Thụy | Lý Tuấn Phong | Lê Thị Hồng Thi |
Bản án số 120/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 120/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T được ly hôn ông H
