Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 12/2026/HS-PT

Ngày: 13-01-2026

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Văn Đại

Bà Hoàng Thị Hải Hường

- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 13/01/2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 221/2025/TLPT-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Ngô Minh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 107/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2-Bắc Ninh. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 451/2025/QĐXXPT-HS ngày 30 tháng 12 năm 2025.

* Bị cáo:

Họ và tên: Ngô Minh T, sinh năm 1989; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn H, xã X, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Con ông: Ngô Văn H, sinh năm 1959 (đã chết); Con bà: Ngô Thị C, sinh năm 1968 (đã chết); Vợ: Phùng Thị C1, sinh năm 1990; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2013; Gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 21/5/2025 đến ngày 30/5/2025, hiện đang áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

* Bị hại: Chị Phùng Thị H1, sinh năm 1982; địa chỉ: thôn M, xã X, tỉnh Bắc Ninh (xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 20/5/2025, Ngô Minh T, sinh năm 1989, trú tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn H, xã X, tỉnh Bắc Ninh) lái xe ô tô chở công nhân đi làm ở khu công nghiệp. Khoảng 10 giờ cùng ngày, sau khi chở công nhân đi làm xong, T cất xe ô tô ở bãi gửi xe tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là xã H, tỉnh Bắc Ninh) rồi lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 98D1-628.06 Thông gửi trước đó để điều khiển đi về nhà. Khi đi đến đoạn cánh đồng B thuộc tổ dân phố C, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn C, xã X, tỉnh Bắc Ninh), Thông quan sát thấy chị Phùng Thị H1, sinh năm 1982 trú tại Tổ dân phố M, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn M, xã X, tỉnh Bắc Ninh) một mình điều khiển xe máy điện đi phía trước cùng chiều và có để 01 chiếc túi xách bằng vải màu đỏ ở trong giỏ xe, T nghĩ trong túi có tài sản nên nảy sinh ý định cướp giật chiếc túi xách của chị H1. T dừng xe mô tô lại, dùng khẩu trang y tế mang theo từ trước bịt kín biển kiểm soát của mô tô để tránh bị phát hiện rồi tiếp tục điều khiển xe bám theo phía sau xe máy điện của chị H1. Khi đến đoạn đường vắng, T điều khiển xe mô tô song song với xe của chị H1, nhanh chóng dùng tay phải giật lấy chiếc túi xách trong giỏ xe của chị H1 rồi đặt chiếc túi xách tại giữa khung phía trước yên xe và tăng ga bỏ chạy. Do bị giật túi bất ngờ nên chị H1 giật mình ngã xuống đường. Sau khi cướp giật được chiếc túi xách của chị H1, T điều khiển xe đi về nhà và kiểm tra chiếc túi xách thì thấy bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A18 màu xanh, 01 đồng hồ đeo tay nữ bằng kim loại màu vàng, 01 thẻ ngân hàng B, 01 thẻ công nhân mang tên Phùng Thị H1 và số tiền 743.000 đồng.

Khi bị giật túi xách, chị Phùng Thị H1 bị ngã và xây sát chân trái, cánh tay trái, đau chân phải nên đã đến Bệnh viện Q và điều trị. Cùng ngày, chị H1 đã làm đơn trình báo Công an thị trấn B (nay là Công an xã X).

Ngày 21/5/2025, Ngô Minh T đến Công an thị trấn B đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản của chị Phùng Thị H1.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Phùng Thị H1; tuy nhiên, chị H1 kiên quyết từ chối giám định thương tích nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Tại Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 03/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản hình sự huyện H (nay là xã H, tỉnh Bắc Ninh) kết luận: Chiếc túi xách bằng vải màu đỏ trị giá 30.000 đồng; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A18 màu xanh trị giá 2.000.000 đồng; phôi sim V trị giá 35.000 đồng; phôi sim Vinaphone trị giá 35.000 đồng; chiếc ốp nhựa điện thoại trị giá 10.000 đồng; chiếc đồng hồ bằng kim loại màu vàng trị giá 100.000 đồng. Tổng trị giá các tài sản là 2.210.000 đồng (hai triệu hai trăm mười nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho chị H1 số tiền 20.000.000 đồng. Đến nay, chị H1 không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

Với nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 107/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh đã quyết định: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Minh T 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt hoặc tự nguyện thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21 tháng 5 năm 2025 đến ngày 30 tháng 5 năm 2025.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn giải quyết về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/10/2025 bị cáo Ngô Minh T kháng cáo xin hưởng án treo. Với lý do bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, trước khi phạm tội bị cáo có lối sống lành mạnh, có nơi cư trú ổn định, bản thân là lao động chính trong gia đình . Giá trị chiếm đoạt thấp, bị cáo đã tự nguyện giao nộp tòa bộ cho cơ quan điều tra. Sauk hi sự việc xảy ra bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi nông nổi, thiếu suy nghĩ của bị cáo nên đã tự nguyện ra đầu thú, thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo đã chủ động nhờ gia đình đến thăm hỏi, xin lỗi, bồi thường toàn bộ về tổn thất về thương tích và tinh thần cho bị hại.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo T giữ nguyên đơn kháng cáo. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là đúng người đúng tội, không oan sai. Bị cáo xin được hưởng án treo để được ở nhà chăm sóc vợ và con nhỏ.

* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Ngô Minh T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 107/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh. Giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo đối với bị cáo Ngô Minh T.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Ngô Minh T cho UBND xã X, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo T không có ý kiến gì tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tội danh của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng của vụ án và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/5/2025, tại đoạn đường thuộc thôn C, xã X, tỉnh Bắc Ninh; Ngô Minh T đã có hành vi sử dụng xe mô tô là phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm cướp giật 01 chiếc túi xách bên trong có các tài sản của chị Phùng Thị H1, sinh năm 1982 trú tại thôn M, xã X, tỉnh Bắc Ninh khi chị H1 đang điều khiển xe máy điện đi trên đường. Trị giá các tài sản cướp giật là 2.953.000 đồng (hai triệu chín trăm năm ba nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

[2]. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Ngô Minh T. Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú, đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bà nội bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm đã đánh giá toàn diện, khách quan hành vi phạm tội của bị cáo, tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng; tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đã xử phạt bị cáo mức án 01 năm 06 tháng tù là phù hợp.

Quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo T ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị hại Phùng Thị H1 tiếp tục có đơn đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được ở nhà chăm sóc gia đình. Bị cáo tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo năm 2025 tại UBMTTQ xã X. Do đó áp dụng cho bị cáo T thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo T có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, đã nhận thức việc làm của mình là sai trái, ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện, có địa chỉ cư trú rõ ràng. Việc không bắt bị cáo T phải chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm, không gây nguy hiểm cho xã hội. Để đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước và tạo cơ hội cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành công dân có ích cho xã hội, không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, mà cho được hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đối chiếu quy định tại văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Ngô Minh T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 107/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh. Giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo đối với bị cáo Ngô Minh T.

[3]. Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên căn cứ quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Ngô Minh T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 107/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Ngô Minh T cho UBND xã X, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự

2. Án phí phúc thẩm: Bị cáo Ngô Minh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKS, TA khu vực 2 - Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 2 - Bắc Ninh;
  • - UBND xã X, tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo, Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HСТР.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2026/HS-PT ngày 13/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về cướp giật tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 12/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội "Cướp giật tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger