|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 119/2025/HNGĐ- ST Ngày 24-12-2025 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Hữu Thái
- 2. Bà Nguyễn Thị Yến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 373/2025/TLST-HNGĐ ngày 19/11/2025 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Danh Thị L, sinh ngày 19/5/1985; Căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Đỗ Đặng N, sinh ngày 02/12/1984; Căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Danh Thị L trình bày:
- Vê quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Đặng N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh) ngày 17/3/2004. Sau khi cưới anh chị về chung sống với nhau ngay. Thời gian đầu anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có 02 con chung.
Mâu thuẫn phát sinh từ năm 2018, nguyên nhân do trong cuộc sống vợ chồng anh chị bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp về tính tình, anh chị thường xuyên cãi nhau từ những chuyện nhỏ trong gia đình đến việc nuôi dạy con cái và kinh tế. Bản thân chị và anh N đã có nhiều lần ngồi lại với nhau để dàn xếp chuyện vợ chồng nhưng không có kết quả.
Do không chịu đựng được cuộc sống chung như vậy nên chị đã chuyên về nhà đẻ ở và sống ly thân với anh N từ năm 2018 đến nay. Anh N cũng không gọi chị quay về đoàn tụ vợ chồng nữa. Từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, không còn quan tâm đến nhau. Gia đình hai bên có biết việc anh chị xảy ra mâu thuẫn và có dàn xếp, khuyên bảo hai vợ chồng nhưng không có kết quả. Anh chị đã chính thức ly thân nhau và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ cuối năm 2018 cho đến nay.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, anh chị không thể tìm được tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Đặng N.
- Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là Đỗ Đặng C, sinh ngày 01/8/2006 và Đỗ Đặng Minh V, sinh ngày 04/8/2011. Hiện nay cháu C đã trưởng thành nên chị không có yêu cầu gì, còn cháu V hiện nay đang ở với anh N. Nay ly hôn chị đồng ý để anh N được tiếp tục nuôi cháu V để tránh xáo trộn cuộc sống của cháu V.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị đã được cán bộ Tòa án giải thích việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung là để đảm bảo quyền lợi của con chung nhưng chị và anh N sẽ tự thỏa thuận với nhau về vấn đề cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, ruộng đất nông nghiệp: Anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu không thỏa thuận được chị sẽ đề nghị Tòa án giải quyết sau.
Ngoài ra chị Nguyễn Danh Thị L không trình bày gì thêm.
* Theo biên bản lấy lời khai, bị đơn là anh Đỗ Đặng N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Danh Thị L có tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại ủy ban nhân dân xã L. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống với nhau ngay tại thôn Đ, xã L. Thời gian đầu anh chị chung sống vui vẻ, hạnh phúc, không phát sinh mâu thuẫn gì. Đến khoảng năm 2018 anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống. Anh chị cãi cọ trong nhiều vấn đề làm ăn, buôn bán. Sau khi chị L đi nước ngoài một thời gian thì vợ chồng anh chị dần mất tình cảm. Anh và chị L không còn nói chuyện với nhau. Anh chị không phát sinh cãi cọ, đánh nhau hay to tiếng. Khoảng bảy năm nay, chị L chỉ về thăm con cũng như bố mẹ xong rồi lại đi chứ không ở nhà. Gia đình hai bên cũng tác động để hai vợ chồng về ở với nhau nhưng chị L không về đoàn tụ. Nay chị L đề nghị giải quyết ly hôn thì anh đồng ý ly hôn để sớm ổn định công việc, cuộc sống.
- Về con chung: Anh chị có hai con chung là Đỗ Đặng C sinh ngày 01/8/2006 và Đỗ Đặng Minh V sinh ngày 04/8/2011. Sau khi ly hôn, anh đề nghị được nuôi cháu V và không đề nghị chị L cấp dưỡng, còn cháu C đã trưởng thành, anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, ruộng đất nông nghiệp: Anh chị tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, anh Đỗ Đặng N không còn ý kiến nào khác.
- Ngày 02 tháng 12 năm 2025, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đỗ Đặng N xin vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Ngày 05 tháng 12 năm 2025, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đỗ Đặng N xin vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Tại phiên tòa ngày 24 tháng 12 năm 2024, chị Nguyễn Danh Thị L và anh Đỗ Đặng N đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.
+ Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Danh Thị L được ly hôn anh Đỗ Đặng N.
Về con chung: Giao cho anh Đỗ Đặng N trực tiếp nuôi con chung là Đỗ Đặng Minh V sinh ngày 04/8/2011. Đối với con chung là Đỗ Đặng C, sinh ngày 01/8/2006 đã trưởng thành, không xem xét giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, còn đề nghị xử lý về phần án phí của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn là chị Nguyễn Danh Thị L và bị đơn là anh Đỗ Đặng N đã có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ vào Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Danh Thị L và anh Đỗ Dặng N1 theo quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn là anh Đỗ Đặng N có nơi cư trú tại xã L, tỉnh Bắc Ninh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh.
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Danh Thị L có đơn xin ly hôn và đề nghị giải quyết về con chung với anh Đỗ Đặng N nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 xác định quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
[4] Về nội dung:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Danh Thị L và anh Đỗ Đặng N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh) ngày 17/3/2004. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh N là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại thôn Đ, xã L. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo hai anh chị trình bày là do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp tính tình, thường xuyên cãi nhau nên dần mất tình cảm. Anh chị đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay chị Nguyễn Danh Thị L đề nghị ly hôn thì anh Đỗ Đặng N đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Điều này chứng tỏ hôn nhân giữa chị L và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị L được ly hôn với anh N là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[4.2] Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Danh Thị L và anh Đỗ Đặng N có 02 con chung là Đỗ Đặng C sinh ngày 01/8/2006 và Đỗ Đặng Minh V sinh ngày 04/8/2011. Chị L và anh N đề nghị sau khi ly hôn giao cho anh N trực tiếp nuôi con chung là Đỗ Đặng Minh V, sinh ngày 04/8/2011. Do cháu Đỗ Đặng C đã trưởng thành nên chị L và anh N không đề nghị giải quyết.
Xét thấy: Đề nghị của chị Nguyễn Danh Thị L và anh Đỗ Đặng N là phù hợp pháp luật, phù hợp đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện vọng của con chung. Do vậy, cần giao cho anh Đỗ Đặng N trực tiếp nuôi con chung là Đỗ Dặng Minh V1, sinh ngày 04/8/2011 là phù hợp với khoản 2 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình; sau khi ly hôn chị L được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này là phù hợp với các điều 58, 82 luật hôn nhân gia đình.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Danh Thị L và anh Đỗ Đặng N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4.3] Về tài sản chung, công nợ và ruộng đất nông nghiệp: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chị Nguyễn Danh Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Danh Thị L được ly hôn với anh Đỗ Đặng N.
2. Về con chung: Giao cho anh Đỗ Đặng N trực tiếp nuôi con chung là Đỗ Đặng Minh V, sinh ngày 04/8/2011.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị L có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này. Tuy nhiên, người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng.
Vì lợi ích của con chung, Tòa án có thể thụ lý giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nếu sau này các đương sự có đơn yêu cầu và theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Danh Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0003695 ngày 19/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận chị Nguyễn Danh Thị L đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Ngọc Oanh |
Bản án số 119/2025/HNGĐ- ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 119/2025/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Danh Thị L xin ly hôn anh Đỗ Đặng N
