|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Bản án số: 118/2025/HS-ST Ngày 31-12-2025 |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – BẮC NINH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Tân Thịnh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tấn và bà Ngô Thùy Phương.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Tân - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Bắc Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Dương Văn Đ, sinh ngày: 03/10/2007; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Xóm N, xã N, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Văn T và con bà: Dương Thị M; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/10/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam T – trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đặng Thị H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung Tâm T2. (có mặt)
- Bị hại: Cháu Nguyễn Thị Y, sinh ngày 16/12/2008, Do bà Vũ Thị D, sinh năm 1976 là mẹ đẻ cùng nơi cư trú: Thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh giám hộ. (có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Cháu Giàng Thị S, sinh ngày 20/5/2010; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, tỉnh Yên Bái do ông Giàng A K, sinh năm 1987 và bà Sùng Thị L, sinh năm 1989 là bố mẹ đẻ cùng nơi cư trú giám hộ. (vắng mặt)
- + Chị Hờ Thị S1, sinh ngày 27/11/2007, nơi thường trú: Bản T, xã M, tỉnh Sơn La. (vắng mặt)
- + Anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 2001, nơi cư trú: Thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)
Người làm chứng: Thân Văn H1, sinh năm: 2005, nơi thường trú: Khu phố H, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 12/10/2024, sau khi tan ca làm tại Công ty C ở KCN Q, Dương Văn Đ điều khiển chiếc xe mô tô của mình có biển kiểm soát: 23B1– 717.38 chở theo Giàng Thị S ngồi ở giữa, và Hờ Thị S1 ngồi phía sau ngoài cùng đi ra khỏi công ty. Đ điều khiển xe từ công ty ra đường G đi theo hướng Hải Phòng – Bắc Ninh để về khu trọ thuê tại tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh. Khi Đ điều khiển xe đến đoạn cổng phụ phía sau công ty D2 thuộc địa phận tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh. Lúc này, Đ đang điều khiển xe mô tô đi ở phần đường bên phải trên đường gom KCN Quế Võ 2 theo hướng Hải Phòng đi Bắc Ninh, Đ thấy phía trước xe mình có một số xe mô tô đi ở phía trước cùng chiều liền điều khiển xe vượt trái và đi lấn sang phần đường dành cho phương tiện đi hướng ngược lại (từ Bắc Ninh đi Hải Phòng). Do không chú ý quan sát, thời điểm xe bắt đầu lấn sang phần đường từ Bắc Ninh đi Hải Phòng để vượt lên thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát: 99H1 – 425.51 do Nguyễn Thị Y, đang điều khiển di chuyển trên đường G theo hướng Bắc Ninh - Hải Phòng. Sau va chạm chiếc xe mô tô của chị Y điều khiển bị đổ ra đường, đầu xe bị quay về hướng mép đường chiều Bắc Ninh – Hải Phòng, chị Y cũng bị ngã văng ra sát mép đường chiều Bắc Ninh – Hải Phòng. Xe mô tô của Đ bị đổ trượt rê về phía trước đến sát mép đường chiều Hải Phòng – Bắc Ninh thì dừng lại, cả Đ, chị S1 và cháu S bị thương nằm ngã cạnh xe. Thời điểm đó, anh Thân Văn H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 99E1 – 598.57 đi một mình trên đường G hướng Bắc Ninh - Hải Phòng và đi ở phía sau cùng chiều với xe của chị Y thì bất ngờ thấy xe chị Y xảy ra va chạm với xe của Đ ở phía trước nên H1 giật mình bóp gấp phanh xe lại khiến xe bị trượt lốp đến sát xe chị Y thì bị đổ ra đường. Sau đó, H1 đứng dậy cùng một số người đi đường xuống kiểm tra thấy chị Y cùng Đ, cháu S và chị S1 bị thương nên đã gọi xe đưa mọi người đi cấp cứu tại Bệnh viện.
Quá trình xác minh tin báo, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q (cũ) đã phối hợp với Viện KSND thị xã Q (nay là Viện KSND khu vực H2), Phòng K1 Công an tỉnh B, Phòng C1 tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện liên quan, đồng thời tiến hành các biện pháp điều tra thu thập chứng cứ, tài liệu, ghi lời khai của nhân chứng, người chứng kiến sự việc xảy ra.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại đường gom KCN dải nhựa bằng phẳng rộng 7,7m, tầm nhìn rộng, mép đường phía bên phải chiều Hải Phòng – Bắc Ninh có rãnh thoát nước bê tông rộng 0,3m. Hai bên đường có vỉa hè rộng 5m, đường có hệ thống đèn cao áp chiếu sáng còn hoạt động.
Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
- Đám cày xước;
- Xe mô tô biển kiểm soát 99H1 – 425.51;
- Đám cày xước;
- Xe mô tô biển kiểm soát 23B1 – 717.38;
- Vết trượt lốp;
- Xe mô tô biển kiểm soát 99E1 – 598.57;
- Vùng chất màu nâu đỏ;
- Vùng chất màu nâu đỏ;
- Vết cày xước;
Xác định lấy mép đường phía bên phải chiều đường H - Bắc Ninh làm mép đường chuẩn để đo các số liệu. Xác định lấy chân cột điện số 478E27.14 nằm trên vỉa hè chiều đường B - Hải Phòng làm điểm mốc cố định.
Các dấu vết, phương tiện có trên hiện trường được mô tả như sau:
(1) Đám cày xước kích thước dài 0,55m, rộng 0,5m chiều hướng Bắc Ninh – Hải Phòng. T1 đầu vết cách mép đường chuẩn 4,6m, tâm cuối vết trùng khu vực bàn để chân trước trên xe mô tô 99H1 – 425.51 tiếp xúc với mặt đường, cách mép đường chuẩn 4,7m.
(2) Xe mô tô biển kiểm soát 99H1 – 425.51 nằm đổ nghiêng trái trên mặt đường, phía trước xe hướng về mép đường chiều Bắc Ninh – Hải Phòng, phía sau xe hướng về lòng đường. Giữa trục bánh trước xe cách mép đường chuẩn 5m, giữa trục bánh sau xe cách mép đường chuẩn 4m.
(3) Đám cày xước kích thước dài 11,7m, rộng 0,05m, chiều hướng Hải Phòng về Bắc Ninh. Đầu vết nằm dưới xe mô tô 99E1 – 598.57 cách đầu vết (1) là 0,1m,
cách mép đường chuẩn 4,7m. Cuối vết là khu vực bàn để chân trước bên phải xe mô tô 23B1 – 717.38 tiếp xúc với mặt đường cách mép đường chuẩn 1,3m.
(4) Xe mô tô biển kiểm soát 23B1 – 717.38 nằm đổ nghiêng phải trên mặt đường, phía trước xe hướng về Bắc Ninh, phía sau xe hướng về Hải Phòng. Giữa trục bánh trước xe cách mép đường chuẩn 1,5m, giữa trục bánh sau xe cách mép đường chuẩn 1,2m, cách giữa trục bánh sau xe mô tô 99H1 – 425.51 là 11,4m.
(5) Vết trượt lốp kích thước dài 5,4m, rộng 0,06m, màu đen chiều hướng Bắc Ninh – Hải Phòng, đầu vết cách mép đường chuẩn 4,7m, cuối vết là khu vực dưới lốp bánh trước xe mô tô 99E1 – 598.57 cách mép đường chuẩn 4,4m.
(6) Xe mô tô biển kiểm soát 99E1 – 598.57 nằm đổ nghiêng phải trên mặt đường, phía trước xe hướng xiên chéo về phía Bắc Ninh – Hải Phòng. Giữa trục bánh trước xe cách mép đường chuẩn 4,3m, giữa trục bánh sau xe cách mép đường chuẩn 5,25m. Giữa trục bánh trước xe cách giữa trục bánh sau xe mô tô 99H1 – 455.51 là 1,05m.
(7) Vùng chất màu nâu đỏ, kích thước (0,4 x 0,4)m, nằm trên mặt đường, điểm gần nhất cách mép đường chuẩn là 7,1m, cách trục bánh trước xe mô tô 99H1 – 425.51 là 2,1m.
(8) Vùng chất màu nâu đỏ, kích thước (1,2 x 1,2)m, tâm trùng mép đường chuẩn, cách giữa trục bánh trước xe mô tô 23B1 – 717.38 là 1,5m.
(9) Vết cày xước kích thước dài 0,5m, rộng 0,002m chiều hướng Bắc Ninh – Hải Phòng, đầu vết cách mép đường chuẩn 4,8m, cuối vết là khu vực điểm cong của chân gương trên xe mô tô 99H1 – 425.51 tiếp xúc với mặt đường, cách mép đường chuẩn 4,7m.
Đo từ điểm mốc là chân cột điện 478E27.14 vào giữa trục bánh trước xe mô tô 23B1 – 717.38 được các số đo dài 16,1m về phía Bắc Ninh, vuông góc là 10,15m.
Quá trình rà soát tại hiện trường không phát hiện camera ghi nhận nội dung diễn biến có liên quan đến vụ tai nạn.
Kết quả khám nghiệm phương tiện có liên quan đến tai nạn:
* Khám phương tiện xe mô tô biển số 99H1 - 425.51:
- Nửa bên trái mặt đèn pha có dấu vết xước KT (0,055 x 0,05)m, chiều từ phải sang trái;
- Mặt trước đầu bên trái ốp nhựa trước đầu xe có dấu vết xước KT (0,065 x 0,01)m, chiều từ phải sang trái;
- Vỡ toàn bộ gương trái, chân gương này ngả về sau, mặt trước chân gương có diện dấu vết xước KT (0,06 x 0,01)m;
- Toàn bộ ốp nhựa mặt nạ phía trước xe và cánh yếm bên trái bị vỡ rời ra;
- Mặt trên chắn bùn bánh trước xe có vết xước KT (0,24 x 0,02)m;
- Bánh trước và hai giảm xóc bị xoay vặn lệch sang trái so với đầu xe và dồn đẩy về sau sang phải;
- Lốp bánh trước rơi ra khỏi vành;
- Vành bánh trước xe bị biến dạng cong lõm vào trục sang phải, vị trí cong cách chân van 0,27m về phía ngược chiều quay tiến của xe;
- Cần phanh bên trái bánh trước có dấu vết dồn đẩy về sau, mặt cạnh trước cần phanh này có dấu vết lõm xước KT (0,022 x 0,01)m, chiều từ trước về sau;
- Mặt trước giảm xóc bên trái bánh trước sát với đầu phía dưới có dấu vết hằn xước KT (0,013 x 0,01)m, chiều từ trước về sau;
- Mặt trước ốc đầu trục bên trái bánh trước có dấu vết xước KT (0,012 x 0,01)m, chiều từ trước về sau;
- Nửa trước cần số xe bị cong về sau, mặt trong cần số tại vị trí này có dấu trượt bám chất màu đen KT (0,05 x 0,017)m;
- Khung bàn để chân trước bên trái cong về sau, đầu khung chọc rách ra ngoài có dấu vết xước KT (0,015 x 0,01)m.
* Khám phương tiện xe mô tô biển số 23B1 – 717.38:
- Mặt đèn báo rẽ phía trước bên phải và ốp nhựa phía trên, phía ngoài đèn có dấu vết xước vỡ KT (0,09 x 0,07)m, chiều xước từ trái sang phải;
- Mặt trước đầu tay lái bên phải có dấu vết xước KT (0,03 x 0,015)m; Đầu tay phanh bên phải bị gẫy;
- Bánh trước và hai giảm xóc bị xoay vặn ra so với đầu xe lệch sang phải; Lốp bánh trước rời khỏi vành. Vành bánh trước có dấu vết biến dạng cong lõm vào trong, vị trí cong đối diện chân van qua trục vành;
- Đầu ốc gắn phía trước cần phanh bên trái phía trước có vết trượt xước sáng màu kim loại KT (0,01 x 0,01)m, mặt ngoài bên trái phía trên vị trí cần phanh này có vết vỡ xước KT (0,03 x 0,011)m;
- Mặt ngoài giảm xóc bên trái phía trước phía trên vị trí gắn ốc đầu trục có dấu vết vỡ xước KT (0,015 x 0,01)m;
- Vỡ mất mảnh cánh yếm phía dưới bên trái;
- Nửa phía trước cần số cong về sau, trụ xoay cần số cong về sau; Khung bàn để chân trước bên trái cong về sau, khuyết toàn bộ vỏ bọc bàn để chân;
- Cần đạp phanh và khung bàn để chân trước bên phải cong về sau; đầu khung bàn để chân có vết xước KT (0,015 x 0,01)m;
- Đầu bàn để chân sau bên phải có vết xước KT (0,025 x 0,01)m.
* Khám phương tiện xe mô tô biển số 99E1 - 598.57:
- Mặt trước đầu tay phanh bên phải có vết xước KT (0,005 x 0,005)m;
- Mặt ngoài bàn để chân sau bên phải có vết xước KT (0,013 x 0,005)m.
Trưng cầu giám định; Định giá tài sản:
* Trưng cầu giám định dấu vết cơ học:
Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B về dấu vết điểm va chạm giữa hai phương tiện, tại bản Kết luận giám định số: 2760/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- “(1) Dấu vết trượt xước tại đầu ốc phía trên cần phanh bánh trước trên xe mô tô biển số 23B1 – 717.38 (ảnh 5 trong bản ảnh giám định) có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết hằn, xước tại mặt trước giảm xóc bên trái bánh trước trên xe mô tô biển số 99H1 - 425.51 (ảnh số 6 trong bản ảnh giám định). Dấu vết va chạm trên xe mô tô biển số 99H1 - 425.51 tại vị trí này có chiều từ trước về sau;
- (2) Dấu vết hằn, xước tại mặt trước giảm xóc bên trái bánh trước trên xe mô tô biển số 23B1 – 717.38 (ảnh 9 trong bản ảnh giám định) có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt xước tại đầu ốc phía trên cần phanh bánh trước trên xe mô tô biển số 99H1 - 425.51 (ảnh 10 trong bản ảnh giám định). Dấu vết va chạm trên xe mô tô biển số 99H1 - 425.51 tại vị trí này có chiều từ trước về sau;
- (3) Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 99E1-598.57 và xe mô tô biển số 99H1 - 425.51.”
Tại bản Kết luận giám định số: 3255/KL-KTHS ngày 06/11/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển số 23B1-717.38 và xe mô tô biển số 99H1-425.51 tại hiện trường là mặt đường gom, phần đường chiều từ Q đi Hải Dương, nằm trong vùng từ trục trước xe mô tô biển số 99H1-425.51 đến tim đường, từ trục xe mô tô biển số 99H1-425.51 đến trục sau xe mô tô biển số 99E1-589.57 (xác định giới hạn vùng theo phương vuông góc và song song với mép đường chuẩn)”
* Trưng cầu giám định thương tích:
Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm thương tích, cơ chế hình thành thương tích của chị Nguyễn Thị Y, tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 16/KLTTCT-TTPY ngày 28/02/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận:
“+ Căn cứ trong Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Y tại thời điểm giám định là: 76% (Bảy mươi sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
+ Kết luận khác: Cơ chế do tác động tương hỗ với vật tày và tác động với vật tày."
Ngày 05/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q cũ ra Quyết định trưng cầu giám định số: 110; 111/QĐ-ĐTTH trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh B giám định tỷ lệ phần trăm thương tích, cơ chế hình thành thương tích của cháu Giàng Thị S và chị Hờ Thị S1. Ngày 13/02/2025, cháu Giàng Thị S và chị Hờ Thị S1 có đơn xin từ chối việc giám định. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q cũ đã ra Quyết định dẫn giải nhưng cháu S và chị S1 từ chối việc giám định thương tích, cam kết không thắc mắc khiếu kiện gì về nội dung vụ tai nạn.
* Kết quả định giá tài sản:
Trên cơ sở yêu cầu định giá thiệt hại tài sản của xe mô tô biển số 23B1 – 717.38 và xe mô tô biển số 99H1 – 425.51 bị hư hỏng do tai nạn giao thông. Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 04/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Q (cũ) kết luận:
- “Giá trị thiệt hại của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS: 23B1 – 717.38, màu xanh đen bạc, đã qua sử dụng, đã bị hư hỏng là 5.750.000₫ (năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Giá trị thiệt hại của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS: 99H1 – 425.51, màu đen, đã qua sử dụng, đã bị hư hỏng là 5.570.000đ (năm triệu năm trăm bảy mươi nghìn đồng)”.
Tổng giá trị thiệt hại của 02 xe mô tô trên là 11.320.000 đồng (mười một triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).
* Kết quả kiểm tra chất kích thích:
- Ngày 12/10/2024, Đội Cảnh sát giao thông Công an thị xã Q (cũ) đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn có trong khí thở của Dương Văn Đ kết quả nồng độ cồn có trong khí thở đo được là: 0,000 mg/L khí thở.
- Ngày 12/10/2024, Đội Cảnh sát giao thông Công an thị xã Q đã tiến hành kiểm tra chất ma tuý có trong nước tiểu của Dương Văn Đ, xác định Dương Văn Đ là không có chất ma tuý trong mẫu nước tiểu.
- Ngày 12/10/2024, Đội Cảnh sát giao thông Công an thị xã Q (cũ) đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn có trong khí thở của Thân Văn H1, kết quả nồng độ cồn có trong khí thở đo được là: 0,000 mg/L khí thở.
- Ngày 12/10/2024, Đội Cảnh sát giao thông Công an thị xã Q (cũ) đã tiến hành kiểm tra chất ma tuý có trong nước tiểu của Thân Văn H1 xác định Thân Văn H1 là không có chất ma tuý trong mẫu nước tiểu.
- Căn cứ: Kết quả xét nghiệm sinh hoá máu và kết quả xét nghiệm vi sinh ngày 12/10/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B cung cấp: Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn và chất ma tuý có trong máu của Nguyễn Thị Y là: Âm tính.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 62/CT-VKSKV8 ngày 15 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Dương Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố Dương Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên;
Xử phạt: Dương Văn Đ từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam.
Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 591 và Điều 601 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường 80.000.000 đồng cho gia đình bị hại. (xác nhận bị cáo đã tác động gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại 10.000.000 đồng).
Vật chứng vụ án:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS: 23B1 – 717.38, màu xanh đen bạc, đã qua sử dụng, quá trình điều tra được xác định là của bị cáo, do vậy cần trả cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu xám đen, BKS 99E1 – 598.57, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q (cũ) đã tiến hành xác minh xác định chủ sở hữu là của chị Đỗ Thị L1, sinh năm: 1986, nơi thường trú: Khu phố H, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh (là mẹ đẻ của Thân Văn H1). Chị L1 đã cho Thân Văn H1 chiếc xe trên để sử dụng làm phương tiện đi lại. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q (cũ) đã
ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả lại cho Thân Văn H1 để sử dụng. Sau khi nhận lại tài sản trên anh H1 không có thắc mắc gì.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, BKS 99H1 – 425.51, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q cũ đã tiến hành xác minh xác định chủ sở hữu là của anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 2001, nơi cư trú: Thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q cũ đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả lại cho anh Nguyễn Đức Q để sử dụng. Sau khi nhận lại tài sản trên anh Q không có thắc mắc gì.
Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống trong vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghe bản luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo Đ, không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo là người dân tộc thiểu số sông trong vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, ngoài việc bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình thì gia đình bị cáo là hộ nghèo nhưng bị cáo cũng đã tác động đến gia đình bồi thường khắc phục hậu quả một phần cho bị hại, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Bị cáo đồng ý với quan điểm của người bào chữa không bổ sung gì khác.
Bị hại, người giám hộ cho bị hại không có ý kiến tranh luận mà xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đảm bảo theo trình tự tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 12/10/2024, tại gần cổng phụ phía sau công ty D2 thuộc địa phận Tổ dân phố H, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh, Dương Văn Đ, sinh ngày 03/10/2007, không có giấy phép lái xe, điều khiển mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen bạc, BKS 23B1 – 717.38 chở theo Giàng Thị S và Hờ Thị S1 đi ở phần đường bên phải trên đường gom KCN Quế Võ 2 theo hướng Hải Phòng đi Bắc Ninh đã không chấp hành quy định an toàn giao thông, vượt bên trái phương tiện đi phía trước, không đảm bảo an toàn, dẫn đến va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS: 99H1 – 425.51, màu đen, do chị Nguyễn Thị Y điều khiển di chuyển theo hướng Bắc Ninh đi Hải Phòng. Hậu quả chị Nguyễn Thị Y bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 76%.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với thời gian, không gian, địa điểm, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai nhân chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội được quy định tại điểm a khoản 2 điều 260 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, gây tổn thất lớn về tinh thần cũng như tổn hại về vật chất cho gia đình bị hại, đồng thời gây hoang mang, lo lắng cho những người tham gia giao thông khi đi qua khu vực này, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Do vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã nhận thức được hành vi của mình, bị cáo phạm tội cũng có một phần lỗi của bị hại (chưa đủ điều kiện điện điều khiển phương tiện tham gia giao thông), bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường một phần cho gia đình bị hại được bị hại, người giám hộ cho bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Trách nhiệm dân sự:
Anh Thân Văn H1, là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô biển số 99E1 – 598.57, do xe trên không bị hư hỏng thiệt hại gì, anh H1 không có yêu cầu phải bồi thường, sửa chữa thiệt hại về phương tiện nêu trên của mình. Ngoài ra, khi xảy ra va chạm anh H1 không bị thương tích gì nên không có yêu cầu về việc phải bồi thường gì.
Anh Nguyễn Đức Q là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô biển số số 99H1 – 425.51 không có yêu cầu về việc bồi thường sửa chữa thiệt hại về phương tiện của mình, do vậy không đặt ra giải quyết.
Cháu Giàng Thị S do ông Giàng A K và bà Sùng Thị L là bố mẹ đẻ giám hộ và chị Hờ Thị S1, sau khi xảy ra tai nạn bị thương tích phải đi bệnh viện điều trị hiện đã hồi phục và có đơn đề nghị xin từ chối giám định thương tích. Cháu S, chị S1 không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về trách nhiệm dân sự. Do vậy không xem xét giải quyết trong vụ án này. Tuy nhiên nếu có yêu cầu sẽ giải quyết trong vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu.
- Đối với việc giải quyết bồi thường dân sự giữa gia đình cháu Nguyễn Thị Y do bà Vũ Thị D giám hộ với gia đình bị cáo Dương Văn Đ:
Cháu Nguyễn Thị Y do chị Vũ Thị D là mẹ đẻ giám hộ, trong quá trình điều tra, có yêu cầu bị cáo Dương Văn Đ bồi thường tổng số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) là tiền chi phí khám chữa bệnh, chi phí thuốc men, bồi dưỡng sức khoẻ, tổn thất tinh thần và các chi phí khác. Nhưng bị cáo Đ và gia đình không đủ điều kiện kinh tế để đáp ứng yêu cầu bồi thường của gia đình cháu Y.
Nay tại phiên tòa bị cáo Đ đã tác động ông Dương Văn T là bố đẻ đã thống nhất bị cáo Đ có trách nhiệm bồi thường cho cháu Y tiền chi phí khám chữa bệnh, chi phí thuốc men, bồi dưỡng sức khoẻ, tổn thất tinh thần và các chi phí khác với tổng số tiền là 80.000.000 đồng, Bị hại, người giám hộ cho bị hại đồng ý với mức bồi thường trên. Hội đồng xét xử xét thấy việc thống nhất, thỏa thuận mức bồi thường này là do các bên hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật nên cần ghi nhận sự tự nguyện này của các bên. Trước khi mở phiên tòa bị cáo Đ đã tác động ông Dương Văn T là bố đẻ bồi thường được cho bị hại 10.000.000 đồng. Do vậy, cần buộc bị cáo Đ phải có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho cháu Y do bà Vũ Thị D là người giám hộ là 70.000.000 đồng.
Ông Dương Văn T không có yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 10.000.000 đồng bồi thường thay cho bị cáo nên không đặt ra giải quyết.
[5] Vật chứng vụ án:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS: 23B1 – 717.38, màu xanh đen bạc, đã qua sử dụng cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 23010692 mang tên Lý Mí D1, quá trình điều tra được xác định đăng ký lần đầu là của anh Lý Mí D1, sinh năm 2002, địa chỉ: Thôn L, xã G, tỉnh Tuyên Quang, anh
D1 đã bán cho bị cáo Đ từ năm 2022, do vậy xác định chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của bị cáo, do vậy cần trả cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu xám đen, BKS 99E1 – 598.57, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q (cũ) đã tiến hành xác minh xác định chủ sở hữu là của chị Đỗ Thị L1, sinh năm: 1986, nơi thường trú: Khu phố H, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh (là mẹ đẻ của Thân Văn H1). Chị L1 đã cho Thân Văn H1 chiếc xe trên để sử dụng làm phương tiện đi lại. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q cũ đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả lại cho Thân Văn H1 để sử dụng. Sau khi nhận lại tài sản trên anh H1 không có thắc mắc gì.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, BKS 99H1 – 425.51, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q cũ đã tiến hành xác minh xác định chủ sở hữu là của anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 2001, nơi thường trú: Thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q cũ đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả lại cho anh Nguyễn Đức Q để sử dụng. Sau khi nhận lại tài sản trên anh Q không có thắc mắc gì.
[6] Bị cáo thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo theo luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố Dương Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên; Điều 329, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 591 và Điều 601 Bộ luật dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử phạt: Dương Văn Đ 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 24/10/2025.
Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/12/2025 để đảm bảo thi hành án.
Vật chứng vụ án: Trả cho bị cáo Dương Văn Đ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS: 23B1 – 717.38, màu xanh đen bạc, đã qua sử dụng cùng
01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 23010692 mang tên Lý Mí D1 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Dương Văn Đ phải có nghĩa vụ bồi thường tổng số tiền 80.000.000₫ (Tám mươi triệu đồng), bao gồm tiền chi phí khám chữa bệnh, chi phí thuốc men, bồi dưỡng sức khoẻ, tổn thất tinh thần cho cháu Nguyễn Thị Y do bà Vũ Thị D giám hộ. (xác nhận bị cáo đã bồi thường 10.000.000 đồng). Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho cháu Nguyễn Thị Y do bà Vũ Thị D giám hộ là 70.000.000 đồng (Bẩy mươi triệu đồng).
Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo Dương Văn Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ việc trả số tiền nêu trên thì hàng tháng, bị cáo Dương Văn Đ còn phải trả khoản lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được hợp nhất theo Văn bản số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020 của Văn phòng Quốc hội); thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Tân Thịnh |
Bản án số 118/2025/HS-ST ngày 31/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – BẮC NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 118/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Văn Đức phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
