Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 – BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2025/HNGĐ- ST

Ngày 24-12-2025

“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Thái

2. Bà Nguyễn Thị Yến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Hội - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 188/2025/TLST-HNGĐ ngày 13/10/2025 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/12/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị M, sinh ngày 22/08/1982; Căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến G, sinh ngày 10/4/1975; Căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Đặng Thị M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tiến G kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh) ngày 11/5/2007. Sau khi cưới anh chị chung sống cùng gia đình anh G được khoảng 3-4 tháng. Sau đó gia đình mua đất ở thôn Đ, xã L và cho anh chị ở riêng tại thôn Đ, xã L. Anh chị sinh sống ở thôn Đ, xã L từ đó cho đến nay. Thời gian đầu anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có 02 con chung.

Mâu thuẫn phát sinh từ những năm 2008, nguyên nhân do anh chị bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp về tính tình. Tuy nhiên, cũng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ trong gia đình. Anh chị dàn xếp và vẫn chung sống với nhau để cùng làm ăn kinh tế và nuôi dạy con cái.

Đến năm 2024 thì mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng hơn. Nguyên nhân do anh G chơi bời cờ bạc, không tu chí làm ăn. Bản thân chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh G không thay đổi mà còn đánh đập chị và các con nhiều lần.

Từ đó tình cảm vợ chồng không còn như ban đầu, vợ chồng ngày càng xa cách, không còn quan tâm đến nhau. Anh chị đã có rất nhiều lần ngồi lại với nhau để dàn xếp chuyện vợ chồng nhưng không có kết quả. Gia đình hai bên có biết việc anh chị xảy ra mâu thuẫn và có dàn xếp, khuyên bảo hai vợ chồng nhưng không có kết quả. Anh chị đã chính thức ly thân nhau và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ giữa năm 2024 cho đến nay.

Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, anh chị không thể tìm được tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Tiến G.

- Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là Nguyễn Đặng Thùy T, sinh ngày 24/02/2008 và Nguyễn Đặng Mai T1, sinh ngày 19/8/2014. Hiện nay cả hai con chung đang ở với chị. Nay ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được tiếp tục được nuôi con chung là Nguyễn Đặng Mai T1, sinh ngày 19/8/2014 và giao cho anh G được nuôi con chung là Đặng Thùy T, sinh ngày 24/02/2008. Nếu trường hợp anh G đề nghị được nuôi cả hai con chung thì chị không đồng ý, trường hợp anh G không đồng ý nuôi cháu T thì chị đề nghị Tòa án giao cho chị được nuôi cả hai con chung.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, ruộng đất nông nghiệp: Anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu không thỏa thuận đượcanh chịsẽ đề nghị Tòa án giải quyết sau.

Ngoài ra chị Đặng Thị M không trình bày gì thêm.

* Theo biên bản lấy lời khai, bị đơn là anh Nguyễn Tiến G trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị M được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn năm 2007 tại UBND xã T. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng anh chị về ở với nhau tại thôn Đ, xã L.

Thời gian đầu về chung sống, anh chị không có mâu thuẫn gì lớn, chủ yếu là những khúc mắc trong cuộc sống hằng ngày. Trong thời gian anh chị chung sống có sinh được 02 cháu, sống yên ấm được một thời gian thì anh chị phát sinh mâu thuẫn.

Đến khoảng năm 2010, khi con gái lớn nhà anh chị được khoảng 2 tuổi thì chị M bỏ đi. Nguyên nhân là do vợ chồng khúc mắc về vấn đề kinh tế gia đình, vợ chồng làm ăn không có tiền nên mâu thuẫn. Từ năm 2010 đến nay, chị M thường xuyên bỏ đi, đón cả các con chung về nhà đẻ ở. Anh nhiều lần lên nhà đẻ của chị M để thuyết phục chị M về, có lần chị M về, có lần thì không. Đến tháng 3 Âm lịch năm nay, chị M bỏ về nhà đẻ ở từ đó đến nay không về nữa. Anh nhiều lần liên lạc nhưng không có kết quả. Anh chị không nói chuyện được với nhau. Nay chị M làm đơn ly hôn thì anh đề nghị Tòa án hòa giải cho chị M và anh về đoàn tụ với nhau.

- Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là Nguyễn Đặng Thùy T, sinh ngày 24/02/2008 và Nguyễn Đặng Mai T1, sinh ngày 19/8/2014. Trường hợp ly hôn, anh G đề nghị được nuôi cả 02 con chung, không yêu cầu chị M cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, ruộng đất nông nghiệp: Anh chị không có tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh Nguyễn Tiến G không còn ý kiến nào khác.

- Ngày 25 tháng 11 năm 2025, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Tiến G xin vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

- Ngày 08 tháng 12 năm 2025, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Tiến G xin vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

- Tại phiên tòa ngày 24 tháng 12 năm 2024, chị Đặng Thị M và anh Nguyễn Tiến G có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.
  • + Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị M được ly hôn anh Nguyễn Tiến G.

Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị M trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Đặng Mai T1, sinh ngày 19/8/2014; giao cho anh Nguyễn Tiến G trực tiếp nuôi con chung là Đặng Thùy T, sinh ngày 24/02/2008.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Đặng Thị M thuộc đối tượng hộ nghèo nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho chị Đặng Thị M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát khu vực 4 – Bắc Ninh và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn là chị Đặng Thị M và bị đơn là anh Nguyễn Tiến G đã có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ vào Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Đặng Thị M và anh Nguyễn Tiến G theo quy định.
  2. [2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đặng Thị M và anh Nguyễn Tiến G có nơi cư trú tại xã L, tỉnh Bắc Ninh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh.
  3. [3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Đặng Thị M có đơn xin ly hôn và đề nghị giải quyết về con chung với anh Nguyễn Tiến G nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 xác định quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
  4. [4] Về nội dung:
    • [4.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị M và anh Nguyễn Tiến G kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã T, tỉnh Bắc Ninh) ngày 11/5/2007. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh G là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại thôn Đ, xã L. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị M trình bày là guyên nhân do anh G chơi bời cờ bạc, không tu chí làm ăn. Bản thân chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh G không thay đổi mà còn đánh đập chị và các con nhiều lần.
    • Theo anh G thì nguyên nhân là do vợ chồng khúc mắc về vấn đề kinh tế gia đình, vợ chồng làm ăn không có tiền nên mâu thuẫn. Từ năm 2010 đến nay, chị M thường xuyên bỏ đi, đón cả các con chung về nhà đẻ ở. Anh nhiều lần lên nhà đẻ của chị M để thuyết phục chị M về, có lần chị M về, có lần thì không. Nay chị M đề nghị ly hôn thì anh G không đồng ý.
    • Điều này chứng tỏ hôn nhân giữa chị M và anh G đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do

vậy, cần xử cho chị M được ly hôn với anh G là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

  • [4.2] Về con chung: Quá trình chung sống chị Đặng Thị M và anh Nguyễn Tiến G có 02 con chung là Nguyễn Đặng Thùy T, sinh ngày 24/02/2008 và Nguyễn Đặng Mai T1, sinh ngày 19/8/2014. Chị Đặng Thị M đề nghị được trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Đặng Mai T1 và đề nghị giao cho anh Nguyễn Tiến G trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Đặng Thùy T. Anh Nguyễn Tiến G đề nghị nuôi cả 02 con chung. Cháu Nguyễn Đặng Thùy T có nguyện vọng được ở với anh G, cháu Nguyễn Đặng Mai T1 có nguyện vọng được ở với chị M.
  • Xét thấy: Đề nghị của chị Đặng Thị M phù hợp pháp luật, phù hợp đạo đức xã hội và phù hợp với nguyện vọng của con chung. Do vậy, cần giao cho chị Đặng Thị M trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Đặng Mai T1, sinh ngày 19/8/2024 và giao cho anh Nguyễn Tiến G được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Đặng Thùy T, sinh ngày 24/02/2008 là phù hợp với khoản 2 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình.
  • Sau khi ly hôn anh G và chị M được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh chị thực hiện quyền này là phù hợp với các điều 58, 82 luật hôn nhân gia đình.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đặng Thị M và anh Nguyễn Tiến G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • [4.3] Về tài sản chung, công nợ và ruộng đất nông nghiệp: Chị M không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • [5] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Do chị Đặng Thị M thuộc đối tượng hộ nghèo nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho chị Đặng Thị M.
  • [6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Tiến G.
  1. Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị M trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Đặng Mai T1, sinh ngày 19/8/2014; giao cho anh Nguyễn Tiến G trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Đặng Thùy T, sinh ngày 24/02/2008.
  2. Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Chị M và anh G có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh chị thực hiện quyền này. Tuy nhiên, người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng.

Vì lợi ích của con chung, Tòa án có thể thụ lý giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nếu sau này các đương sự có đơn yêu cầu và theo quy định của pháp luật.

  1. Về án phí: Miễn án phí sơ thẩm cho chị Đặng Thị M. Trả lại cho chị Đặng Thị M 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001553 ngày 13/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
  2. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 4 – Bắc Ninh;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
  • - UBND xã Trường Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Ngọc Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2025/HNGĐ- ST ngày 24/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 118/2025/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Đặng Thị M xin ly hôn anh Nguyễn Tiến G
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger