TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 117/2025/HNGĐ-ST Ngày 25-12-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thanh Vân
2. Ông Đặng Khoa Thi
Thư ký phiên tòa:
Bà Trần Phan Ý Vy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Hồ Duy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 226/2025/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 346/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 383/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 03 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1993.
Cư trú: Số B, khóm T, phường L, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên hệ: Số D, ấp V, xã V, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn xin vắng)
Bị đơn: Ông Nguyễn Hải V, sinh năm 1991.
Cư trú: Số B, khóm T, phường L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huyền T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Nguyễn Hải V tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân vào năm 2015, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là phường L, tỉnh An Giang) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 03/KH.MQ, quyển số 01/2015, ngày 03/02/2015. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, cuộc sống không còn hạnh phúc nên bà T bỏ về nhà cha mẹ ruột sống và vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài, nên bà T yêu cầu ly hôn với ông V.
Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Quân B, sinh ngày 26/01/2016, hiện con chung đang sống cùng ông V. Khi ly hôn, bà T đồng ý giao con chung cho ông V tiếp tục trực tiếp trong nôm, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn Hải V đều vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà T. Tại phiên tòa, ông V tiếp tục vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Huyền T đối với ông Nguyễn Hải V. Về con chung, giao cháu Nguyễn Quân B cho ông V tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Huyền T khởi kiện tranh chấp ly hôn với ông Nguyễn Hải V. Ông Vũ cư T1 tại số B, khóm T, phường L, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông V được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông V tự nguyện đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là phường L, tỉnh An Giang) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/02/2015, nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình giải quyết, bà T xác định không còn tình cảm với ông V, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn. Ông V vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà T về tranh chấp ly hôn; không cung cấp, giao nộp chứng cứ. Tại phiên tòa, ông V tiếp tục vắng mặt không lý do, thể hiện ông V không có thiện chí hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ tình trạng hôn nhân của bà T và ông V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì sẽ không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
[2.2] Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Quân B, sinh ngày 26/01/2016. Xét thấy, hiện cháu B đang sống cùng ông V, được ông V chăm sóc tốt và nguyện vọng của cháu cũng mong muốn được sống cùng cha. Do đó, để ổn định cuộc sống và đảm bảo cho các cháu phát triển tốt về mọi mặt khi bà T và ông Vũ ly H, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu B cho ông V tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.
Ông V cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Quân B. Trường hợp bà T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì ông V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà T.
Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, ông V là người được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, nhưng ông không có yêu cầu, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích khác của con, cơ quan có thẩm quyền; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông V không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết. Đương sự có tranh chấp, khởi kiện vụ kiện khác theo quy định.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Huyền T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Huyền T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Huyền T được ly hôn ông Nguyễn Hải V.
- Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Quân B, sinh ngày 26/01/2016; hiện con chung đang sống cùng ông V. Ông V được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Ông V cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Quân B. Trường hợp bà T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì ông V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà T.
- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích khác của con, cơ quan có thẩm quyền; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Huyền T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005369, ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà T đã nộp đủ tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Chiền |
Bản án số 117/2025/HNGĐ-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 117/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của NĐ
