Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - BẮC NINH

Bản án số: 117/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23/12/2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Thế Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Xuân Chung;

- Ông Trương Thanh Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngọ Thị Thanh Hà– Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/11/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 15/8/1997

Nơi cư trú: Thôn C, xã L, tỉnh Bắc Ninh.

Căn cước công dân số: 024197002923

• Bị đơn: Anh Vũ Văn T1, sinh ngày 07/7/1979

Nơi cư trú: Thôn C, xã L, tỉnh Bắc Ninh.

Căn cước công dân số: 024079017455.

(Chị T và anh T1 xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn T1 kết hôn ngày 08/9/2014 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh).
  • Sau khi kết hôn xong, chị và anh T1 về ở với nhau ngay và đã có 3 con chung là Vũ Văn P, sinh ngày 15/6/2016, Vũ Thị T2, sinh ngày 13/11/2018 và Vũ Văn H, sinh ngày 05/01/2021.
  • Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do: Trong cuộc sống, chị và anh T1 không có tiếng nói chung, anh T1 không chịu làm ăn, hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mỗi lúc cãi nhau là anh T1 đánh chị. Do không chịu được, năm 2021 chị đã về nhà mẹ đẻ ở, hai vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không còn quan hệ vợ chồng. Chị xác định không còn tình cảm với anh T1, nên đề nghị Toà án cho được ly hôn.
  • - Về con chung: Chị và anh T1 có 3 con chung như trình bày ở trên. Hiện 3 con đang ở với chị. Nếu ly hôn, chị xin nuôi cả 3 con, chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Hiện chị đang làm công nhân, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng, đủ điều kiện nuôi con.
  • - Về tài sản: Để chị và anh T1 thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn anh Vũ Văn T1 trình bày: Anh công nhận thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn nhưu chị Nguyễn Thị T trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh và chị T về ở với nhau ngay và đã có 3 con chung như chị T trình bày là đúng.

Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng từ năm 2018, vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm, hay cãi nhau. Đến năm 2021 thị anh và chị T sống ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm. Chị T xin ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị T có 3 con chung như chị T trình bày là đúng. Chị T có nguyện vọng nuôi cả 3 con, anh đồng ý.

Về cấp dưỡng nuôi con: Để anh và chị T tự thoả thuận.

- Về tài sản: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án; nguyên đơn và bị đơn đều xin vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự đã được Tòa án cho thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của đương sự; nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS).

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng các Điều: 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình 2014;

Các Điều: 28, 35, 39, 147, 203, 227, 228, 238, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt à BLTTDS);

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Vũ Văn T1.
  • - Về con chung: Giao các cháu Vũ Văn P, Vũ Thị T2 và Vũ Văn H cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
  • - Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị T có đơn xin ly hôn Vũ Văn T1 và giải quyết về con chung. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của BLTTDS xác định quan hệ pháp luật là: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có địa chỉ cư trú tại xã L, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.
  3. Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
  4. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn T1 kết hôn ngày 08/9/2014 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã L, tỉnh Bắc Ninh). Nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn xong, chị T và anh T1 về ở với nhau ngay, hai người sống hạnh phúc một thời gian và đã có 3 con chung.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Chị T và anh T1 trong quá trình chung sống có nhiều điểm không hợp nhau, hai vợ chồng thường xảy ra cãi nhau, không cùng quan điểm sống. Đến năm 2021 thì chị T và anh trưởng sống ly thân, chị T về nhà mẹ đẻ ở, hai người không còn quan hệ vợ chồng nữa. Tòa án đã tiến hành hòa giải để chị T và anh T1 về đoàn tụ. Tuy nhiên chị T giữ nguyên quan điểm xin ly hôn, còn anh T1 vắng mặt và đồng ý ly hôn. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn tình cảm với nhau, không có sự quan tâm chăm sóc nhau, vị phạm nghĩa vụ của vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho chị T được ly hôn anh T1.

  1. Về con chung: Chị T và anh T1 có 3 con chung là: Vũ Văn P, sinh ngày 15/6/2016, Vũ Thị T2, sinh ngày 13/11/2018 và Vũ Văn H, sinh ngày 05/01/2021. Hiện cả 3 con đang ở với chị T. Chị T có nguyện vọng nuôi cả 3 con; anh T1 đồng ý để chị T nuôi 3 con.

Các cháu Vũ Văn P và Vũ Thị T2 trên 7 tuổi, có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Do đó cần giao cả 3 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

Quyền thăm con: Anh T1 có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T1 thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con cho nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, nếu sau này các đương sự có yêu cầu và theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

  1. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
  2. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình theo quy định tại Điều 147 của BLTTDS.
  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS.

Báo cho nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều: 51, 56, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Vũ Văn T1.
  2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con: Vũ Văn P, sinh ngày 15/6/2016, Vũ Thị T2, sinh ngày 13/11/2018 và Vũ Văn H, sinh ngày 05/01/2021 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Anh Vũ Văn T1 có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T1 thực hiện quyền này.

  1. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình.

Tiền án phí được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002306 ngày 22/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận chị T đã nộp đủ tiền án phí.

  1. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 4 - Bắc Ninh;
  • - Thi hành án DS tỉnh Bắc Ninh;
  • - UBND xã Lục Nam, tỉnh Bắc Ninh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS+VT.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Dương Thế Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2025/HNGĐ-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 117/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị T xin ly hôn anh Vũ Văn Tr
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger