|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH Bản án số: 116/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-12-2025 V/v: Ly hôn giữa chị Đ và anh |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Hùng;
- Bà Hoàng Thị Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mai Vi Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thư - Kiểm sát viên;
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 94/2025/TLST-HNGĐ ngày 15/10/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/12/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 14/2025QĐST-HNGĐ ngày 11/12/2025 giữa các đương sự;
- - Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Đ, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn B, xã G, tỉnh Ninh Bình; “vắng mặt, chị Đ1 xin xét xử vắng mặt)
- - Bị đơn: Anh Phạm Văn Đ2, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn B, xã G, tỉnh Ninh Bình; “ vắng mặt”
- - Người đại diện theo pháp luật cho anh Phạm Văn Đ2: Bà Phùng Thị H, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn B, xã G, tỉnh Ninh Bình; (mẹ đẻ của anh Đ2); “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai quá trình giải quyết nguyên đơn chị Đoàn Thị Đ trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị Đ và anh Phạm Văn Đại tự N tìm hiểu đi đến hôn nhân đã được Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Nam Định cũ nay là xã G, tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 24/4/2004. Chị Đ và anh Đ2 mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Chị Đ xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, có níu kéo cũng không mang lại hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ2.
- Về con chung: Chị Đ và anh Đ2 có 01 con chung tên là Phạm Bá P, sinh ngày 06/7/2005. Hiện cháu P đã khôn lớn, trưởng thành, có khả năng lao động và tự lập được. Nên khi ly hôn, chị Đ không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Bà Phùng Thị H là người đại diện theo pháp luật của bị đơn anh Phạm Văn Đ2 trình bày:
Do anh Đ2 bị câm bẩm sinh từ nhỏ, anh Đ2 sống với bà nên anh Đ2 hiểu được cử chỉ tay và bà cũng hiểu được cử chỉ và ý mà anh Đại biểu L. Tòa án đã để bà H hỗ trợ anh Đ2 trong quá trình lấy lời khai. Bà H cam kết truyền đạt lại cho Tòa án một cách trung thực nguyện vọng của anh Đ2 và quan điểm của anh Đ2 như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đ tự nguyện tìm hiểu tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn hợp pháp như chị Đ trình bày là đúng. Trong cuộc sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì quá lớn. Bản thân gia đình bố mẹ hai bên cũng đã vun vén cho vợ chồng anh nhưng không có kết quả. Nay chị Đ có đơn xin ly hôn, anh không nhất trí. Anh muốn vợ chồng đoàn tụ và cùng nhau chung sống hạnh phúc. Nhưng hiện anh chưa đưa ra được giải pháp nào để hàn gắn hạnh phúc gia đình.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung như chị Đ trình bày là đúng. Hiện cháu P đã khôn lớn, trưởng thành, có khả năng lao động và tự lập được. Nên khi ly hôn, anh Đ2 không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết quả thu thập chứng cứ tại UBND xã G:
Chị Đoàn Thị Đ và anh Phạm Văn Đ2 là người có nơi cư trú tại xã B cũ nay là xã G, tỉnh Ninh Bình.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị Đ và anh Phạm Văn Đại tự N tìm hiểu đi đến hôn nhân đã được Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Nam Định cũ nay là xã G đăng ký kết hôn vào ngày 24/4/2004. Chị Đ và anh Đ2 mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Căn cứ vào lời trình bày của chị Đ và anh Đ2 cũng như thực trạng hôn nhân của các bên đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.
- Về con chung: Chị Đ và anh Đ2 có 01 con chung là cháu Phạm Bá P, sinh ngày 06/4/2005. Hiện cháu P đã khôn lớn, trưởng thành, lao động và tự lập được, khi ly hôn chị Đ và anh Đ2 không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết là phù hợp.
- Về tài sản: Ở địa phương chị Đ và anh Đ2 không có tài sản, đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết là phù hợp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, các đương sự tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành quy định của pháp luật.
Nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử ly hôn giữa chị Đoàn Thị Đ và anh Phạm Văn Đ2.
Về con chung: Chị Đoàn Thị Đ và anh Phạm Văn Đ2 có 01 con chung Phạm Bá P, sinh ngày 06/4/2005. Hiện cháu P đã khôn lớn, trưởng thành, lao động và tự lập được, khi ly hôn chị Đ và anh Đ2 không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết là phù hợp.
Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu xem xét là phù hợp
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành theo quy định của pháp luật.
- [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị Đ và anh Phạm Văn Đ2 đến với nhau tự nguyện và đăng ký kết hôn hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị Đ và anh Đ2 sống không hạnh phúc hay xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hoà hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói. Khi mâu thuẫn xảy ra, hai bên gia đình đã động viên, khuyên giải để hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Nay chị Đ xin ly hôn, anh Đ2 không nhất trí ly hôn, anh Đ2 mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau chung sống hạnh phúc, nhưng anh Đ2 lại không đưa ra được giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Đ và anh Đ2 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Đ xin ly hôn anh Đ2 là phù hợp nên HĐXX sẽ chấp nhận yêu cầu của chị Đ là xử cho ly hôn với anh Đ2 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- [3] Về con chung: Chị Đoàn Thị Đ và anh Phạm Văn Đ2 có 01 con chung Phạm Bá P, sinh ngày 06/4/2005. Hiện cháu P đã khôn lớn, trưởng thành, lao động và tự lập được, khi ly hôn chị Đ và anh Đ2 không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết là phù hợp.
- [4] Về tài sản: Chị Đoàn Thị Đ và anh Phạm Văn Đ2 không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết là phù hợp.
- [5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đoàn Thị Đ và anh Phạm Văn Đ2.
- Về con chung: Đoàn Thị Đ và anh Phạm Văn Đ2 không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản: Chị Đoàn Thị Đ và anh Phạm Văn Đ2 không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Đoàn Thị Đ phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0001382 ngày 08/10/2025 Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Ninh Bình; chị Đoàn Thị Đ đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Long |
Bản án số 116/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH về ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 116/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
