Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

Bản án số: 115/2025/HS-ST

Ngày: 29-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hằng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và bà Nguyễn Thị Vân
  • Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên– Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 12 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 123/2025/HSST ngày 11/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐXXST-HS ngày 16/12/2025:

1. Đối với các bị cáo:

1.1. Nguyễn Quang H, sinh năm 1961; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã V, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Kim T1; con: có 02 con (lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1997);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 25/8/2025 đến ngày 31/8/2025 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)

1.2. Nguyễn Tuấn H1, sinh năm 1973; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã V, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn N và con bà Nguyễn Thị T2; vợ: Đinh Thị P; con: có 04 con (lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2009);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 25/8/2025 đến ngày 31/8/2025 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)

1.3. Nguyễn Văn H2, sinh năm 1963; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã V, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 (đã chết) và bà Đỗ Thị M (đã chết); vợ: Nguyễn Hải P1; con: có 02 con (lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2003);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 25/8/2025 đến ngày 31/8/2025 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)

1.4. Nguyễn Văn T3, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã V, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L2 (đã chết) và bà Chu Thị T4; vợ: Trần Thị Phương N1; con: có 03 con (lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2021);

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 29/5/2013 bị Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tang trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt ngày 27/9/2014 (đã được xoá án tích)

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 25/8/2025 đến ngày 31/8/2025 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)

1.5. Nguyễn Khắc L3, sinh năm 1972; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã V, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Trương Thị P2; vợ: Nguyễn Thị N2; con: có 02 con (lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2003);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 25/8/2025 đến ngày 31/8/2025 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)

1.6. Trương Đỗ T5, sinh năm 1971; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã V, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Đỗ T6 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T7 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị T8; con: có 03 con (lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2003);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 25/8/2025 đến ngày 31/8/2025 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)

1.7. Đỗ Đặng T9, sinh năm 1962; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã V, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đặng S (đã chết) và bà Trương Thị N3; vợ: Nguyễn Thị Y; con: có 02 con (lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1991);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 25/8/2025 đến ngày 31/8/2025 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)

1.8. Đỗ Xuân Q, sinh năm 1972; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã V, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Xuân Q1 (đã chết) và bà Đỗ Thị T10; vợ: Đỗ Minh T11; con: có 02 con (lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2006);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 25/8/2025 đến ngày 31/8/2025 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)

1.9. Nguyễn Đức T12, sinh năm 1971; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã V, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá S1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N4 (đã chết); vợ: Đỗ Thị T13; con: có 02 con (lớn sinh năm 2000 – đã chết, nhỏ sinh năm 2002);

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 22/3/1996 bị Toà án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (đã được xoá án tích)

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 25/8/2025 đến ngày 31/8/2025 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang H là ông Nghiêm Đức H3 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm T15, TP . (có mặt)

2. Người làm chứng:

  • + Bà Nguyễn Thị Kim T1 – sinh năm 1965 (vắng mặt)
  • + Anh Nguyễn Văn Đ1 – sinh năm 1970 (vắng mặt)

Đều có HKTT: Thôn T, xã V, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 25/8/2025, Tổ công tác Công an xã V,TP. Hà Nội kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Quang H, sinh năm 1961, ĐKHKTT: tại thôn T, xã V, TP . có hành vi chọ các đối tượng đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền tại nhà ở của mình, gồm hai chiếu bạc, cụ thể:

Chiếu bạc thứ nhất gồm các đối tượng: Nguyễn Đức T12 - sinh năm 1971, Trương Đỗ T5 - sinh năm 1971, Đỗ Đăng T14 - sinh năm 1962, Đỗ Xuân Q - sinh năm 1972 đều có cùng HKTT: ở thôn T, xã V, TP .; tang vật thu tại chiều bạc thứ nhất gồm: 7.210.000 đồng, 01 bộ bài chắn 100 quân, 01 bát sứ.

Chiếu bạc thứ hai gồm các đối tượng: Nguyễn Văn H2 - sinh năm 1963, Nguyễn Văn T3 - sinh năm 1993, Nguyễn Tuấn H1 - sinh năm 1973, Nguyễn Khắc L3 -sinh năm 1972 đều có HKTT: ở thôn T, xã V, TP .; tang vật thu tại chiếu bạc thứ hai gồm: 5.490.000 đồng, 01 bộ bài 52 quân.

Quá trình điều tra làm rõ: Khoảng 14 giờ 05 phút ngày 25/8/2025, Nguyễn Quang H đang ở nhà thì Nguyễn Tuấn H1, Trương Đỗ T5, Nguyễn Văn H2 và Nguyễn Khắc L3 đến nhà H chơi, uống nước. Một lúc sau, Nguyễn Tuấn H1 rủ mọi nguời cùng chơi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, tất cả đồng ý và thống nhất quá trình chơi, ai “ù” sẽ bỏ ra 10.000 đồng cho chủ nhà (Nguyễn Quang H) gọi là tiền chiếu, vệ sinh. Nguyễn Tuấn H1 lấy bộ bài 52 quân trên bàn nhà H sau đó cùng T5, Nguyễn Văn H2 và L3 chơi đánh bạc hình thức đánh “Tá lả” được thua bằng tiền tại phòng khách nhà H. Khi đang chơi ván đầu tiên thì Nguyễn Văn T3 đến. Thấy vậy, T5 đứng dậy nhường chỗ và bài trên tay cho T3 chơi còn T5 đi ra ngoài hiên nhà uống nước thì thấy Nguyễn Quang H, Đỗ Đặng T9, Đỗ Xuân Q, Nguyễn Đức T12 đang ngồi ở bàn nước. T9 rủ T12, T5 và Q chơi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “Chắn”, tất cả đồng ý. H trải chiếu và lấy 01 bộ bài chắn (100 quân) và 01 bát sứ cho các đối tượng đánh bạc. Tất cả thống nhất, ai “ù”sẽ bỏ ra 10.000 đồng cho chủ nhà (Nguyễn Quang H) gọi là tiền chiếu, vệ sinh. Các đối tượng đang chơi đến 17 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác Công an xã V bắt quả tang.

Tại chiếu bạc thứ nhất gồm các đối tượng: Nguyễn Đức T12, Trương Đỗ T5, Đỗ Đặng T9, Đỗ Xuân Q cùng tham gia chơi đánh bạc hình thức đánh “Chắn” được thua bằng tiền. Khi chơi, T12 có 700.000 đồng dùng để đánh bạc, chơi nhiều ván thắng được 1.420.000 đồng, T5 có 1.800.000đ dùng để đánh bạc, chơi nhiều ván thắng được 1.840.000 đồng, T9 có 2.460.000 đồng dùng để đánh bạc, chơi thua còn 2.100.000 đồng; Q có 1.900.000 đồng dùng để đánh bạc, chơi thua còn 1.800.000 đồng, toàn bộ tiền đánh bạc các bị cáo đều để dưới chiếu và bị công an thu giữ. Quá trình chơi con bạc được “ù” và để ra bên cạnh chiếu bạc được tổng số tiền 50.000 đồng cho H. Tổng số tiền đánh bạc tại chiếu bạc thú nhất là: 7.210.000 đồng.

Tại chiếu bạc thứ hai gồm các đối tượng: Nguyễn Tuấn H1, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn H2 và Nguyễn Khắc L3 cùng tham gia chơi đánh bạc hình thức đánh “Tá lả” được thua bằng tiền. Khi chơi Nguyễn Tuấn H1 có 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc, chơi nhiều ván còn 1.000.000 đồng; T3 có 1.540.000 đồng dùng để đánh bạc, chơi nhiều ván thắng được 2.000.000đồng; Nguyễn Văn H2 có 2.200.000 đồng dùng để đánh bạc, chơi nhiều ván thua còn 2.130.000 đồng, L3 có 700.000 đồng dùng để đánh bạc, chơi nhiều ván thua còn 300.000 đồng. Toàn bộ tiền đánh bạc các bị can đều để dưới chiếu và bị công an thu giữ. Quá trình chơi con bạc được “ù” và để ra bên cạnh chiếu bạc tổng số tiền 60.000 đồng cho H. Tổng số tiền đánh bạc tại chiếu bạc thứ hai là: 5.490.000 đồng.

Quá trình chơi không ai canh gác, không ai làm tín dụng, không thu hồ, phế nhưng khi các con bạc chơi và được “ù” đã thống nhất bỏ ra 10.000 đồng cho H để H trả điện nước và vệ sinh. Khi các đối tượng đang chơi thì H vào trong nhà nằm đến khi Công an bắt quả tang nên H chưa nhận được tiền điện nước, vệ sinh của các con bạc.

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 74/CT-VKS ngày 10 tháng 12 năm 2025 Viện trưởng Viện kiểm sát Khu vực 12 – Hà Nội đã truy tố các bị cáo:

  • + Nguyễn Quang H về tội: “Gá bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự;
  • + Nguyễn Tuấn H1, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Khắc L3, Trương Đỗ T5, Đỗ Đặng T9, Đỗ Xuân Q và Nguyễn Đức T12 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Các bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về tội danh:

  • + Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H về tội: “Gá bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự:
  • + Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn H1, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Khắc L3, Trương Đỗ T5, Đỗ Đặng T9, Đỗ Xuân Q và Nguyễn Đức T12 về tội “Đánh bạc”

2. Về hình phạt:

  • + Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s, p khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS: xử phạt bị cáo H từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể trừ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS xử phạt: Nguyễn Đức T12 và Nguyễn Văn T3 mỗi bị cáo từ 07 tháng đến 12 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Tuấn H1, Nguyễn Văn H2, Trương Đỗ T5, Đỗ Đặng T9 mỗi bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; được trừ 06 ngày tạm giữ = 18 ngày cải tạo không giam giữ. Miễn áp dụng khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo;
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt: Đỗ Xuân Q và Nguyễn Khắc L3 mỗi bị cáo từ 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

4. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS:

  • + Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền: 12.700.000 đồng (Mười hai triệu bảy trăm nghìn đồng).
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 bộ bài tú lơ khơ (52 quân), 01 bộ bài chắn (100 quân) và 01 bát sứ.

5. Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang H là ông Nghiêm Đức H3 có quan điểm: Đồng ý về mặt tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người khuyết tật nặng, phạm tội lần đầu để giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ và tài liệu, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội, Điều tra viên Công an thành phố H đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự và thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp, phù hợp với các quy định của BLTTHS.

[2] Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với nhau, người làm chứng và vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 25/8/2025 Nguyễn Quang H đã dùng nhà ở của mình tại thôn T, xã V, thành phố Hà Nội và chuẩn bị công cụ cho các đối tượng Nguyễn Văn T3, Nguyễn Tuấn H1, Đỗ Xuân Q, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Khắc L3, Đỗ Đặng T9, Nguyễn Đức T12 và Trương Đỗ T5 đánh bạc dưới hình thức “Tá lả” và “đánh chắn” được thu bằng tiền, chia làm hai chiếu bạc với tổng số tiền đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc bị công an thu giữ tại chiếu bạc thứ nhất là 7.210.000 đồng và số tiền đánh bạc tại chiếu bạc thứ hai là 5.490.000 đồng; tổng số tiền trên hai chiếu bạc là 12.700.000 đồng.

Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Quang H đã vi phạm vào tội: “Gá bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; các bị cáo Nguyễn Văn T3, Nguyễn Tuấn H1, Đỗ Xuân Q, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Khắc L3, Đỗ Đặng T9, Nguyễn Đức T12 và Trương Đỗ Túc P3 vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất hành vi phạm tội: Các bị cáo đều có năng lực trách nhiệm hình sự; hành vi của các bị cáo gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng đến lối sống lành mạnh của khu dân cư và là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn gia đình và các tệ nạn xã hội khác. Bản thân các bị cáo đều có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được Nhà nước ta nghiêm cấm việc tổ chức đánh bạc, đánh bạc trái phép dưới mọi hình thức nhưng vì động cơ tư lợi các bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời đảm bảo phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Xét vai trò của các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội: Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo H là chủ nhà đồng ý cho các bị cáo chơi 02 chiếu bạc trong cùng một lúc mà tổng số tiền dùng để đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên tại nhà mình nên mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Bị cáo T12 và bị cáo T3 có nhân thân xấu nên mức hình phạt ngang nhau; các bị cáo Tuấn H1, Văn H2, T5, T9 cùng tính chất; bị cáo Q và L3 cùng tính chất nên mức hình phạt ngang nhau. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt khác nhau để tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo.

[5] Xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo trong vụ án:

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Đức T12 đã được xoá án tích và các bị cáo Nguyễn Tuấn H1, Đỗ Xuân Q, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Khắc L3, Đỗ Đặng T9, Trương Đỗ T5 nên thuộc trường hợp phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Quang H được hưởng tình tiết thành khẩn khai báo, là người khuyết tật nặng theo quy định tại điểm s, p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội các bị cáo gây ra cho xã hội, vai trò của các bị cáo, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy lần xét xử này các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng; bản thân các bị cáo đều bị tạm giữ trong thời gian tạm giữ đều nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai; đồng thời có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Nguyễn Quang H, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Đức T12 là phù hợp với Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS. Áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Tuấn H1, Văn H2, T5 và T9; miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo là phù hợp với Điều 36 BLHS. Bị cáo Q và bị cáo L3 có nghề nghiệp, có thu nhập nên cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với hai bị cáo là phù hợp với quy định tại Điều 35 BLHS.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Q và bị cáo L3 hình phạt chính là phạt tiền, các bị cáo còn lại đều không có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền thu giữ tại chiếu bạc và trên người các bị cáo là 12.700.000 đồng cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với 01 bộ bài chắn (100 quân); 01 bộ bài (52 quân) và 01 bát sứ là công cụ phạm tội của các bị cáo nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.

[9] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 BLTTHS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố:

  • + Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội: “Gá bạc”;
  • + Các bị cáo Nguyễn Văn T3, Nguyễn Đức T12, Nguyễn Tuấn H1, Nguyễn Văn H2, Đỗ Đăng T14, Trương Đỗ T5, Đỗ Xuân Q và Nguyễn Khắc L3 phạm tội “Đánh bạc”

2. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s, p khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Đức T12 mỗi bị cáo 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

2.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Tuấn H1, Nguyễn Văn H2, Đỗ Đăng T14 và Trương Đỗ T5 mỗi bị cáo 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ; được trừ 06 ngày tạm giữ = 18 ngày cải tạo không giam giữ; còn phải chấp hành 08 (tám) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố H nhận được Quyết định thi hành án.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

2.4. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự: Xử phạt Đỗ Xuân Q và Nguyễn Khắc L3 mỗi bị cáo 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng)

* Giao các bị cáo Nguyễn Quang H, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Đức T12, Nguyễn Tuấn H1, Nguyễn Văn H2, Đỗ Đăng T14 và Trương Đỗ T5 cho UBND xã V, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã V trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong thời gian thử thách các bị cáo Nguyễn Quang H, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Đức T12 nếu thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

4. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS:

  • + Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền: 12.700.000 đồng (Mười hai triệu, bảy trăm nghìn đồng).
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 bộ bài tú lơ khơ (52) quân, 01 bộ bài chắn (100 quân) và 01 đĩa sứ.

(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/12/2025 giữa Công an thành phố H và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 12 – Hà Nội và Uỷ nhiệm chi ngày 17/12/2025 giữa Công an thành phố H và Thi hành án dân sự thành phố H).

5. Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Buộc các bị cáo Nguyễn Quang H, Nguyễn Tuấn H1, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Khắc L3, Trương Đỗ T5, Đỗ Đặng T9, Đỗ Xuân Q và Nguyễn Đức T12 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND KV 12 – Hà Nội;
  • - Công an TP Hà Nội;
  • - Phòng THADS KV12 – Hà Nội;
  • - UBND xã nơi bị cáo ĐKTT;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hs; V/P./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Bích Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI về hình sự (gá bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 115/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gá bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BAHS -ST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger